“Việt Nam vẫn còn dư địa cho những chính sách hỗ trợ kinh tế hậu Covid-19”

“Việt Nam vẫn còn dư địa cho những chính sách hỗ trợ kinh tế hậu Covid-19”

Đó là nhận định của TS Võ Trí Thành về các nguồn lực kinh tế trong mùa dịch Covid-19. Cuộc khủng hoảng tạo cơ hội rất lớn cho thế giới “tư duy lại, thiết kế lại, xây dựng lại” nhiều vấn đề và Việt Nam cũng vậy…


Tiến sĩ Võ Trí Thành - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh cho biết đây là giai đoạn vô cùng khó khăn đối với hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, các biện pháp hỗ trợ đến nay là phù hợp và vẫn còn dư địa cho tương lai. Doanh nghiệp cũng nên triệt để thực hiện "những việc cần làm", đồng thời nhanh nhạy để có khả năng nắm bắt cơ hội khi nó được mở ra.

- Trong bối cảnh dịch Covid-19 chưa qua, Chính phủ vừa công bố loạt chính sách tài khóa và tiền tệ hướng tới cả đầu tư công, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân. Ông đánh giá đây là "thuốc chữa bệnh" hay "thuốc bổ" cho nền kinh tế?

- Cũng giống như nhiều nước, Việt Nam lựa chọn cách kết hợp phòng chống dịch, coi đây là nhiệm vụ quan trọng nhất và nỗ lực tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, hỗ trợ người lao động, đảm bảo an sinh xã hội.

Theo tôi, phản ứng chính sách, điều hành chung của Chính phủ là kịp thời, tích cực; đặc biệt là hoạt động phòng chống dịch. Trong điều kiện nguồn lực không dư giả, ngân sách còn eo hẹp, nhưng chính sách hỗ trợ về cơ bản vẫn đảm bảo được 3 mục tiêu: hỗ trợ thiết thực và kịp thời; cả quy mô và cách thức (giãn hoãn thuế và trao “tiền mặt” cho khoảng 20 triệu người) là chưa từng có tiền lệ song vẫn đảm bảo được ổn định kinh tế vĩ mô; Chính phủ vẫn còn ít nhiều những dư địa chính sách để ứng phó cho những kịch bản khác, có thể là kịch bản xấu nhất trước diễn biến dịch và cả kịch bản hậu dịch để phát triển kinh tế.

Tôi cho rằng đây là những giải pháp có ý nghĩa trong hỗ trợ doanh nghiệp và nền kinh tế. Bởi bây giờ, hơn lúc nào hết là thời điểm phù hợp thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ người kinh doanh để họ có thể tồn tại đến khi dịch được dập. Việc hỗ trợ từ nhà nước và người lao động chính là những điều kiện quan trọng để doanh nghiệp duy trì được “năng lượng” và sau cơn bão, trời hửng nắng, doanh nghiệp sẽ có thể bật dậy, vươn lên mạnh mẽ.

- Liều lượng của các gói này theo ông đã đủ hay chưa, và liệu còn dư địa cũng như nguồn lực khác khi cần thiết hay không?

- Nhằm ứng phó với dịch, nhiều nước phát triển đã tung ra các gói hỗ trợ tài khóa lớn chưa từng có (như Mỹ tới 10% GDP; hay EU tùy thuộc tình hình có thể chi vượt thông lệ về “kỷ luật” ngân sách); họ tiếp tục nới lỏng mạnh chính sách tiền tệ, giảm lãi suất điều hành về 0, thậm chí là âm, sẵn sàng mua trái phiếu/tài sản không giới hạn. Dư địa chính sách, nhất là chính sách tiền tệ, của những nước đó được đánh giá là “đã hết”. Bài toán phức tạp hơn nếu diễn biến dịch trở nên tồi tệ kéo dài.

Việt Nam chưa giàu, nguồn lực còn hạn chế, nên cách ứng phó, hỗ trợ kinh tế - xã hội cũng có những điểm khác. Chính phủ đã ban hành những gói giải pháp chưa từng có tiền lệ nhưng ít nhiều vẫn còn dư địa cho các chính sách kinh tế vĩ mô, tính đến các kịch bản tiếp theo của diễn biến dịch và hậu dịch.

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã vào cuộc nhanh chóng, hạ nhiều lãi suất điều hành để dần tạo mặt bằng lãi suất cho vay thấp hơn đối với cả nền kinh tế. Nhiều khả năng, cùng với việc đảm bảo ổn định vĩ mô, NHNN sẽ tiếp tục hạ lãi suất điều hành. Hiện họ cũng chưa phải phải dùng nhiều đến nguồn dự trữ ngoại hối 84 tỷ USD. Cùng với đó, các ngân hàng thương mại (NHTM) đã và đang giãn, hoãn, khoanh nợ, giảm lãi suất đối với các khoản đã vay và cả triền khai gói tín dụng đến 250.000 tỷ đồng với lãi suất ưu đãi cùng giảm nhiều loại phí dịch vụ. Quy mô gói tín dụng của các NHTM có thể tăng lên.

Tiếp nữa, với gói hỗ trợ người dân bị ảnh hưởng sâu do dịch trị giá gần 62.000 tỷ đồng, cơ bản đó là từ khoản vượt thu của ngân sách trung ương, địa phương năm 2019, nguồn dự trữ ngân sách và khoản tiết kiệm chi thường xuyên năm nay. Gói đến 180.000 tỷ đồng chi là việc gia hạn thời hạn nộp thuế, tiền thuê đất, bảo hiểm xã hội (nhiều tháng và có thể kéo dài hơn). Vẫn có thể khi cần hỗ trợ thêm với gói hàng chục nghìn tỷ đồng miễn, giảm một số thuế, phí cho doanh nghiệp, nhất là đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ gia đình và doanh nghiệp trong những lĩnh vực chịu ảnh hưởng nặng nề bởi dịch.

Luu ý rằng, một giải pháp quan trọng là thúc đẩy giải ngân đầu tư công, vốn đã rất chậm trong năm 2019, phát triển hiệu quả kết cấu hạ tầng, nhất là các dự án trọng điểm. Tổng số vốn ở đây lên tới gần 30 tỷ USD; song đó là “tiền” chưa giải ngân 2019 và kế hoạch 2020. Những điều này cho phép Việt Nam ở chừng mực nhất định ứng phó tốt hơn trong điều kiện thu ngân sách 2020 rất khó khăn và nếu cần có thể chấp nhận thâm hụt ngân sách cao hơn ít nhiều mức dự kiến.

- Là một trong những chuyên gia đã chứng kiến hầu hết các cuộc khủng hoảng mà nền kinh tế trải qua, theo ông cuộc khủng hoảng lần này có một lần nữa đặt Việt Nam trước cơ hội và yêu cầu tái cơ cấu nền kinh tế?

- Kinh tế Việt Nam đã trải qua rất nhiều cuộc khủng hoảng với những nguyên nhân (trong có, ngoài có) và mức độ nghiêm trọng khác nhau. Gần đây nhất là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bùng nổ từ cuối 2008. Việt Nam đưa ra một gói ngân sách kích cầu trị giá 8 tỷ USD (cơ bản cho phát triển hạ tầng diện rộng và hỗ trợ lãi suất vay từ NHTM) - rất lớn so với quy mô GDP khi ấy chỉ khoảng 100 tỷ USD. Gói hỗ trợ được Chính phủ đưa ra có giải pháp hiệu quả, có những giải pháp thì chưa và cách làm là khác và cũng chưa “khéo” như hiện nay.

Bài học sau đại dịch lần này rất sâu sắc, bởi đây không chỉ là bài học về cuộc khủng hoảng, cách xử lý, phục hồi và bứt phá sau dịch của nền kinh tế, mà nó còn làm xuất hiện những xu hướng mới, phạm trù mới làm thay đổi cách sống và phương thức sản xuất, kinh doanh không chỉ của Việt Nam.

Dịch Covid-19 xảy ra vào thời điểm nền kinh tế thế giới và Việt Nam đang đứng trước những thách thức, xu thế và tư tưởng phát triển mới. Như lối sống, cách sống, cách phát triển bền vững và bao trùm, xu thế xanh, thế giới số, xã hội số, nền kinh tế số... Thêm nữa, nó cũng làm xuất hiện những cặp phạm trù đang gây thêm nhiều tranh cãi như toàn cầu hóa, hội nhập và chủ nghĩa biệt lập, nhà nước - thị trường, tự do cá nhân và trách nhiệm cộng đồng, thế giới thực (kinh tế thực) - thế giới số (kinh tế số)...

Xu hướng, nhìn nhận về những cặp phạm trù đó đang kiến tạo cơ hội rất lớn cho thế giới “tư duy lại, thiết kế lại, xây dựng lại” và Việt Nam cũng vậy. Ngay trong bão dịch, cũng có thể nhận ra những dấu hiệu của quá trình đó. Có cả cơ hội và sự sáng tạo trong sản xuất kinh doanh. Đó là việc chuyển đổi sản phẩm cho phù hợp với những đòi hỏi mới của thị trường. Phương thức kinh doanh cũng đổi mới, kinh tế số và thương mại điện tử lên ngôi. Cách tiếp thị, gắn kết giữa các đối tác, thị trường cũng có sự dịch chuyển đáng kể.

Cách thức hỗ trợ của Chính phủ là vừa cố gắng giảm thiểu khó khăn cho doanh nghiệp vừa tạo tiền đề cho phát triển các bước tiếp theo. Ví dụ, trong gói hỗ trợ, có biện pháp hỗ trợ đào tạo người lao động. Hay như việc thúc đẩy giải ngân đầu tư công vào các dự án kết cấu hạ tầng, giao thông trọng điểm... không chỉ giúp “bù đắp” tăng trưởng cho 2019 mà còn là một nền tảng cần thiết cho phát triển trong tương lai. Cải cách hành chính, xây dựng chính phủ điện tử/chính phủ số không chỉ giúp giảm chi phí, tạo thuân lợi cho doanh nghiệp trong bối cảnh dịch mà còn mang lại lợi ích về lâu về dài. Đây chính là cách nhìn nhận xuyên suốt cho cải cách và cách thức xây dựng gói hỗ trợ cần thiết cùng các kịch bản khác nhau thời dịch và thời hậu dịch. Có thể còn khiếm khuyết, song cách làm của Việt Nam là khẩn trương, quyết liệt, gắn việc đảm bảo khả năng chống chịu với nỗ lực cải cách cơ cấu, tính đến cả tình hình hiện tại và bước chuyển cần thiết cho nền kinh tế thời hậu dịch, với mục tiêu phát triển bền vững, bao trùm và sáng tạo.

- Bên cạnh cơ hội phát triển thì làm thế nào để tận dụng cơ hội này đào thải những khu vực không hiệu quả trong nền kinh tế?

- Trong quá trình cải cách, vấn đề này đã được đề cập đến và nhìn nhận đa chiều như nhìn theo ngành/lĩnh vực, thành phần kinh tế hay quy mô (kinh tế hộ, doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa, doanh nghiệp, tập đoàn lớn...). Theo tôi trước tiên đây là câu chuyện của thị trường, sự vận động và xu thế thị trường. Bởi kinh doanh là quyền tự do của người dân và doanh nghiệp. Ví dụ, trong đại dịch Covid-19, chuyển đổi cách thức kinh doanh là nhu cầu tự thân của doanh nghiệp để duy trì hoạt động và cầm cự.

Nhà nước thường có vai trò quan trọng trong các lĩnh vực như phát triển hạ tầng, giáo dục, y tế, môi trường, nghiên cứu & triền khai (R&D)… nhằm tạo ngoại ứng/tác động lan tỏa cao. Dù vậy, sự tham gia của khu vực tư nhân vẫn cần thiết và có ý nghĩa. Điều quan trọng là việc tạo môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng, cạnh tranh. Còn đối với những lĩnh vực quan tâm có thể tạo ra động lực theo hướng “hỗ trợ người thắng cuộc” chứ không phải “chọn người thắng cuộc”. Công cụ hỗ trợ càng có tính thị trường thì càng tốt.

Trong khủng hoảng như đại dịch Covid-19 hoặc trước những cú sốc lớn mà nền kinh tế phải hứng chịu, thì vai trò nhà nước nhìn chung càng lớn. Đơn giản là trong bối cảnh đó, nguy cơ kinh tế vĩ mô bất ổn cao, đời sống xã hội (nhất là các nhóm yếu thể) bị đảo lộn theo chiều hướng xấu, sản xuất kinh doanh đình đốn. Sự chung tay đồng lòng của doanh nghiệp, xã hội là quan trọng song khó có ai ngoài nhà nước đủ lực hỗ trợ vượt khó và vực dậy nền kinh tế.

Như đã nêu, trong bối cảnh dịch hiện nay, cách hỗ trợ phải bám sát tình hình, sẵn sàng cho kịch bản xấu hơn, và trong bất cứ hoàn cảnh nào, cũng gắn việc giảm thiểu khó khăn, đảm bảo khả năng chống chịu cho doanh nghiệp và cả nền kinh tế cùng tạo đà cho bước phát triển tiếp theo. Khi dịch được không chế hoặc kết thúc, nền kinh tế còn như “người mới ốm nặng dậy”, nên vẫn cần “bồi bổ”. Vấn đề là cách bồi bổ phải phù hợp với xu thế cải cách và phát triển.

- Ông có lời khuyên nào với các doanh nghiệp ở thời điểm này? Bao giờ thì họ nên kết thúc việc "ngủ đông"?

- Đại dịch Covid-19 là biến cố không ai mong đợi. Phải nói đây thực sự là thời điểm vô cùng khó khăn đối với doanh nghiệp. Dù đã có chủ trương hỗ trợ nhưng vấn đề đặt ra hiện nay là làm thế nào để gói hỗ trợ của Chính phủ đến kịp thời, đúng đối tượng, đúng địa chỉ để họ cầm cự, tồn tại và duy trì được cho đến khi dịch được dập.

Doanh nghiệp rất nên tìm hiểu thông tin để tận dụng có hiệu quả gói hỗ trợ của nhà nước và cả của các ngân hàng thương mại. Không chỉ là “uu đãi” mà nền nhìn cả đầu tư nhà nước, như vào kết cấu hạ tầng, để có thể tham gia.

Cắt giảm chi phí là việc rất “truyền thống” doanh nghiệp cần tính toán và làm ngay, tùy theo nguồn lực của mình. Tính toán bước đi tiếp và việc chỉ giữ lại phần “core”/cốt yếu nhất (hoạt động, nhân sự) cũng có thể là việc “cực chẳng đã” nhưng cần làm. Ngay trong khó khăn, việc duy trì quan hệ hoặc tìm hiểu đối tác cũng rất đáng lưu tâm.

Thời dịch bệnh, “giãn cách xã hội”, hạn chế tiếp xúc trực tiếp được khuyến khích. Kinh tế số, không chỉ thương mại điện tử mà cả trong giáo dục, làm việc văn phòng… có cơ phát triển. Không ít doanh nghiệp đã bổ sung, chuyển đổi mô hình kinh doanh, cách thức tương tác khách hàng thành công nhờ công nghệ số.

Thị trường trong ngắn hạn thường có nhu cầu cao hơn đối với các mặt hàng thiết yếu, dù tình hình có khó khăn đến mấy vẫn phải dùng hàng ngày. Các doanh nghiệp có thể nắm bắt nhu cầu và chuyển đổi mặt hàng sản xuất kinh doanh. Câu chuyển thiết bị y tế, khẩu trang, nước rửa tay kháng khuẩn là những sản phẩm rõ nhất cho câu chuyện này. Sản phẩm bánh mì thanh long của một doanh nghiệp còn cho thấy chất sáng tạo rất nhân văn, lại phù hợp đòi hỏi thị trường.

Do dịch bệnh diễn ra và khống chế khác nhau giữa các nước, nên rất cần sự nhanh nhạy xử lý thông tin và tiếp cận thị trường ngay khi có điều kiện. Một ví dụ là khi một thị trường khống chế được dịch, nới lỏng các biện pháp chống dịch, thì doanh nghiệp rất nên “nhắm tới/quay lại” tranh thủ cơ hội mới này.

Điều không kém phần quan trọng là doanh nghiệp cũng cần xem đây là “cơ” để nhìn lại, không chỉ cầm cự, mà còn xoay chuyển tình thế và cải tổ chính mình. Đó là việc định vị thị trường, đối tác, xác định cách thức chuyển đổi số, nâng cấp quản trị (cả quản trị rủi ro), sáng tạo sản phẩm, đào tạo kỹ năng mới cho người lao động…

Thực tế có không ít ví dụ sinh động chứng tỏ tính linh hoạt, sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam. Tôi tin rằng doanh nghiệp, đội ngũ doanh nhân Việt đủ bản lĩnh, kinh nghiệm, sự sáng tạo, đồng lòng cùng Chính phủ vượt qua được giai đoạn rất khó khăn hiện nay và vững bước phát triển mạnh mẽ hơn nữa thời hậu dịch.

Trở lại đầu trang