Phát triển làng nghề góp phần giảm nghèo bền vững
Những năm gần đây, việc phát triển làng nghề đã trở thành hướng đi quan trọng trong tổ chức lại sản xuất ở nông thôn. Qua đó, giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm tại chỗ, cải thiện thu nhập cho người dân, thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững.

Sản xuất hương vòng tại thôn Ba, xã Nam Trực.
Làng nghề - trụ cột sinh kế ở nông thôn
Toàn tỉnh hiện có hơn 250 làng nghề, trong đó 171 làng nghề, làng nghề truyền thống đã được công nhận; trải rộng ở nhiều lĩnh vực như chế biến nông, lâm, thủy sản; thủ công mỹ nghệ; sản xuất đồ gỗ, mây tre đan, gốm sứ, dệt may, thêu ren, cơ khí…
Mỗi năm, các làng nghề giải quyết việc làm cho gần 200 nghìn lao động, tạo doanh thu từ 22 đến 25 nghìn tỷ đồng, với mức thu nhập phổ biến từ 4 đến 15 triệu đồng/người/tháng, cao hơn so với sản xuất nông nghiệp thuần túy. Lực lượng lao động trong các làng nghề, làng có nghề chiếm khoảng 5% dân số toàn tỉnh.
Đặt trong bối cảnh nông thôn, việc phát triển làng nghề với quy mô sản xuất lớn, sẽ là nguồn sinh kế quan trọng giữ chân lao động tại địa phương, có việc làm thu nhập ổn định.
Ở những nơi nghề phát triển, sản xuất diễn ra quanh năm, làng nghề từ chỗ là “nghề phụ” đã trở thành ngành nghề chính, tạo thu nhập ổn định cho người dân. Thu nhập tại làng nghề có thể bù đắp và từng bước thay thế nguồn thu từ nông nghiệp.
Điểm đáng chú ý là người lao động có thể tận dụng thời gian nông nhàn để tăng thêm thu nhập, qua đó góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng bền vững.
Minh chứng tại làng nghề trống Đọi Tam (phường Tiên Sơn) có khoảng 50 xưởng sản xuất với hơn 600 lao động, thu nhập đạt 100-120 triệu đồng/người/năm; sản phẩm tiêu thụ trong nước và xuất khẩu sang Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc.
Ở lĩnh vực mộc mỹ nghệ, làng nghề La Xuyên (xã Vũ Dương) hiện có 2.907 hộ, 33 doanh nghiệp, tạo việc làm cho trên 8.000 lao động, duy trì sản xuất theo hướng kết hợp giữa truyền thống và đổi mới kỹ thuật.
Xã ven biển Xuân Giang có trên 800 hộ làm nghề đan cói với hơn 1.200 lao động tham gia, tập trung chủ yếu ở các thôn 7, 8 và 9. Các sản phẩm như túi cói, ró cói… được xuất khẩu sang Mỹ, Nhật Bản, Canada, mang lại thu nhập bình quân 4-5 triệu đồng/người/tháng.
Ông Phạm Xuân Hùng, Trưởng thôn 9, xã Xuân Giang cho biết: “Ưu thế của nghề cói nằm ở sự linh hoạt. Người dân có thể sản xuất ngay tại nhà, không cần đầu tư máy móc phức tạp, vốn ban đầu không lớn. Phụ nữ trung niên, người cao tuổi vẫn có thể tham gia sản xuất. Nhờ đó, lực lượng lao động tại chỗ được tận dụng, góp phần giữ ổn định đời sống người dân nông thôn”.
Không riêng Xuân Giang, nhiều làng nghề khác trên địa bàn tỉnh cũng đang phát huy hiệu quả tương tự. Sản phẩm ngày càng đa dạng, đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu. Đặc biệt, việc tham gia chương trình OCOP cho thấy xu hướng chuyển dịch từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất tập trung, quy mô lớn đang diễn ra mạnh mẽ. Từ việc sản phẩm có chỗ đứng trên thị trường, thu nhập của người dân dần được đảm bảo ổn định. Đây là yếu tố quan trọng để làng nghề thực sự trở thành trụ cột sinh kế ở nông thôn.
Để làng nghề phát triển bền vững
Mặc dù có vai trò quan trọng trong ổn định và phát triển kinh tế nông thôn, song thực tế các làng nghề đang đối mặt không ít thách thức. Hạ tầng sản xuất ở nhiều khu vực, nhiều địa phương còn hạn chế, mặt bằng chật hẹp, sản xuất xen kẽ trong khu dân cư. Hệ thống thu gom, xử lý chất thải chưa đồng bộ. Một số ngành nghề phát sinh lượng lớn rác thải, khí thải, nước thải, gây ô nhiễm cục bộ. Nếu không được kiểm soát, đây sẽ là rào cản trực tiếp đối với mục tiêu phát triển bền vững.
Một vấn đề không kém phần quan trọng là tại làng nghề thiếu hụt lao động trẻ. Trong khi yêu cầu thị trường ngày càng cao, nhiều nghề truyền thống lại khó thu hút lực lượng kế cận. Nguy cơ gián đoạn trong truyền nghề, kế tục nghề đang hiện hữu ở không ít địa phương. Mặt khác, sản phẩm của làng nghề phải cạnh tranh với hàng công nghiệp về giá thành, mẫu mã và khả năng tiêu thụ. Nếu không đổi mới, lợi thế truyền thống sẽ dần bị thu hẹp. Trước thực tế đó, một số làng nghề đã chủ động thay đổi.
Tại làng nghề trống Đọi Tam, bên cạnh sản phẩm trống truyền thống, các cơ sở sản xuất đã phát triển thêm nhiều mặt hàng như thùng gỗ sồi ngâm rượu, bồn tắm gỗ, bồn ngâm chân... Không dừng lại ở việc duy trì sản xuất, nhiều làng nghề còn chủ động tổ chức sản xuất theo hướng linh hoạt hơn để thích ứng với thị trường.
Tại làng nghề mộc La Xuyên, nhiều hộ đã đầu tư máy cắt CNC, máy chạm khắc tự động, vừa nâng cao năng suất, vừa đáp ứng yêu cầu về độ tinh xảo của sản phẩm. Một số cơ sở còn liên kết theo nhóm sản xuất để nhận các đơn hàng lớn, phân chia theo từng công đoạn, qua đó ổn định việc làm cho hàng nghìn lao động.
Ở một số làng nghề đan cói cũng có những chuyển biến rõ nét khi các tổ hợp tác đứng ra thu mua nguyên liệu, tổ chức sản xuất theo mẫu chung để xuất khẩu sang thị trường Mỹ, Nhật Bản, Canada.
Cùng với đó, nhiều cơ sở sản xuất đã chủ động đưa sản phẩm lên các sàn thương mại điện tử, tham gia hội chợ, kết nối doanh nghiệp để mở rộng đầu ra. Ngay trong từng sản phẩm, người làm nghề cũng phát huy những kinh nghiệm sản xuất được tích lũy qua nhiều năm để linh hoạt thay đổi từ mẫu mã, chất liệu đến công năng sử dụng cho phù hợp nhu cầu tiêu dùng hiện đại. Những chuyển biến đó đã giúp làng nghề vượt qua khó khăn, từng bước khẳng định vị thế trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt.
Chị Vũ Thị Thanh, một người gắn bó nhiều năm với nghề mộc ở La Xuyên chia sẻ: "Nghề đã giúp gia đình tôi có việc làm đều, thu nhập ổn định. Khách giờ yêu cầu cao hơn về mẫu mã và chất lượng nên muốn giữ nghề, chúng tôi phải thay đổi cách làm, nếu không khó tồn tại được với nghề”. Cùng với nỗ lực của người dân, các cấp, các ngành đã triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ để nâng cao tay nghề cho người lao động, hỗ trợ xây dựng thương hiệu, quảng bá sản phẩm.
Ngành Công Thương đã tổ chức đào tạo nâng cao tay nghề thêu, gốm cho 60 lao động đang làm việc tại các cơ sở thủ công mỹ nghệ; đồng thời tổ chức cuộc thi thiết kế mẫu sản phẩm nhằm khơi dậy sáng tạo, cải thiện mẫu mã và giá trị thẩm mỹ. Hoạt động xúc tiến thương mại cũng được đẩy mạnh thông qua các chương trình kết nối cung - cầu, gắn với phát triển sản phẩm OCOP, với 7 đề án được hỗ trợ gần 2,6 tỷ đồng.
Việc hỗ trợ xây dựng website, đưa sản phẩm lên sàn thương mại điện tử cũng bước đầu giúp các cơ sở mở rộng thị trường, từng bước giảm phụ thuộc vào phương thức tiêu thụ truyền thống.
Trong năm 2025, Chi cục Phát triển nông thôn đã tham mưu Sở Nông nghiệp và Môi trường xây dựng Đề án Bảo tồn và phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống gắn với phát triển du lịch giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045; trong đó chú trọng xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường, chuyển đổi số, sáng tạo trong sản xuất, kinh doanh...
Những kết quả và định hướng trên cho thấy, việc phát triển làng nghề trong giai đoạn mới không dừng ở quy mô, mà đang hướng tới chất lượng và tính bền vững. Để làng nghề tiếp tục đứng vững trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, cần giải quyết đồng bộ những điểm yếu về hạ tầng, môi trường, nhân lực và đầu ra sản phẩm. Nếu những khâu này được tháo gỡ, làng nghề sẽ giúp người dân thoát nghèo và trở thành động lực phát triển bền vững cho kinh tế nông thôn.



In bài viết






















