Công nghệ chiến lược sẽ mở ra 'chuỗi kinh tế mới' cho Việt Nam

Công nghệ chiến lược sẽ tạo động lực hình thành các ngành sản xuất mới, tăng năng suất lao động, mở rộng không gian tăng trưởng cho kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tới.

Phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với PGS.TS Nguyễn Thường Lạng - chuyên gia kinh tế và thương mại quốc tế, giảng viên cao cấp Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân) xung quanh vấn đề này.

Định hình tư duy phát triển công nghệ chiến lược

- Cùng với Nghị quyết 57-NQ/TW, Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg vừa được ban hành đang thu hút sự quan tâm lớn. Ông nhìn nhận thế nào về ý nghĩa của các chính sách này?

PGS.TS Nguyễn Thường Lạng: Theo tôi, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đã đặt ra định hướng rất rõ về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Tiếp nối tinh thần đó, Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược là bước đi rất quan trọng để cụ thể hóa định hướng này.

Việt Nam xác lập 10 nhóm công nghệ chiến lược. Ảnh minh họa

Việt Nam xác lập 10 nhóm công nghệ chiến lược. Ảnh minh họa

Điểm đáng chú ý, lần đầu tiên Việt Nam xác định tương đối rõ các công nghệ lõi, công nghệ nền tảng và các sản phẩm có ý nghĩa chiến lược đối với tăng trưởng kinh tế, năng lực cạnh tranh cũng như an ninh quốc gia.

Danh mục lần này tập trung vào 10 nhóm công nghệ trọng điểm, bao quát nhiều lĩnh vực then chốt như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn, điện toán đám mây, robot và tự động hóa, bán dẫn, công nghệ sinh học, năng lượng mới, an ninh mạng, công nghệ lượng tử hay công nghệ hàng không vũ trụ. Đây đều là những lĩnh vực được xem là nền tảng của kinh tế số và công nghiệp tương lai.

Cùng với đó là 30 nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược, bao gồm cả những sản phẩm đã có thị trường như mô hình ngôn ngữ lớn tiếng Việt, AI chuyên ngành, robot công nghiệp, nền tảng điện toán đám mây, giải pháp an ninh mạng… và những công nghệ tạo động lực tăng trưởng mới như chip chuyên dụng, truyền thông lượng tử, lò phản ứng hạt nhân mô-đun nhỏ hay vệ tinh quỹ đạo thấp.

Nếu Quyết định số 1131/QĐ-TTg ngày 12/6/2025 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược quy định có 11 nhóm công nghệ chiến lược và 35 nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược thì nay được tinh gọn còn 10 nhóm công nghệ chiến lược và 30 nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược. Nhưng điều quan trọng hơn cả là Việt Nam đã bắt đầu định hình được khái niệm “công nghệ chiến lược” và tư duy phát triển cũng đã chạm tới vấn đề này.

Điều đó cho thấy, chúng ta đã nhận thức rõ muốn làm chủ công nghệ, phải có công nghệ chiến lược và phải xây dựng hệ sinh thái phát triển phù hợp. Mục tiêu cuối cùng là chuyển hóa công nghệ thành giá trị kinh tế, nâng cao năng lực tự chủ về công nghiệp và công nghệ cho Việt Nam.

- Theo ông, điều gì sẽ quyết định thành công của quá trình này?

PGS.TS Nguyễn Thường Lạng: Từ định hướng đến hình thành sản phẩm cụ thể là cả một quá trình rất dài. Muốn phát triển công nghiệp chiến lược, công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược, phải có chiến lược đầu tư tương xứng và dài hạn.

Theo tôi, thời gian tới, sẽ xuất hiện những khoản đầu tư chiến lược, các tập đoàn công nghệ chiến lược và tập đoàn sản phẩm công nghệ chiến lược để triển khai định hướng này. Đồng thời, cũng sẽ hình thành một chuỗi phát triển mới gồm công nghệ chiến lược, đầu tư phát triển công nghệ, doanh nghiệp chủ lực triển khai và các ngành ứng dụng công nghệ nhằm tạo sức bật về năng suất lao động, sản phẩm mới và mô hình kinh doanh mới.

Đây có thể trở thành nền tảng cho một chuỗi kinh tế mới, một hệ sinh thái phát triển mới và cũng chính là cốt lõi của mô hình tăng trưởng mới của Việt Nam trong tương lai.

Muốn công nghệ tạo giá trị, phải có thị trường khoa học, công nghệ

- Nhiều ý kiến cho rằng, thách thức lớn nhất hiện nay không nằm ở chủ trương mà ở khâu triển khai. Quan điểm của ông ra sao?

PGS.TS Nguyễn Thường Lạng: Tôi cho rằng, muốn phát triển mô hình này, cần kết hợp hai yếu tố.

Thứ nhất là vai trò kích hoạt của Nhà nước thông qua cơ chế, chính sách và đầu tư cho nghiên cứu phát triển (R&D). Hiện, mức chi cho R&D của Việt Nam mới khoảng 0,4 - 0,5% GDP, trong khi mức trung bình của thế giới khoảng 2-2,5% GDP. Nếu Việt Nam nâng được tỷ lệ đầu tư này, Nhà nước sẽ đóng vai trò rất quan trọng trong việc cung ứng nguồn lực đầu tư ban đầu.

PGS.TS Nguyễn Thường Lạng - chuyên gia kinh tế và thương mại quốc tế, giảng viên cao cấp Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân). Ảnh: Nguyễn Hạnh

PGS.TS Nguyễn Thường Lạng - chuyên gia kinh tế và thương mại quốc tế, giảng viên cao cấp Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân). Ảnh: Nguyễn Hạnh

Thứ hai, phải có lực lượng thực thi và thị trường hấp thụ công nghệ. Theo tôi, thị trường khoa học, công nghệ sẽ đóng vai trò then chốt. Muốn thị trường này phát triển, sản phẩm công nghệ phải được thương mại hóa. Điều đó đòi hỏi quy trình đồng bộ, trong đó Nhà nước tạo điều kiện, thị trường hỗ trợ và doanh nghiệp thực hiện thương mại hóa sản phẩm. Quan trọng hơn là phải kết nối được bên cung ứng công nghệ với bên ứng dụng và tiêu dùng công nghệ để kết quả nghiên cứu thực sự đi vào sản xuất, kinh doanh.

Thực tế hiện nay, Việt Nam vẫn thiếu hệ sinh thái đồng bộ này. Đầu tư cho R&D còn thấp, hệ thống phòng thí nghiệm, trang thiết bị hiện đại và đội ngũ khoa học công nghệ mạnh vẫn còn hạn chế. Có giai đoạn nguồn lực được phân bổ nhưng chưa sử dụng hết do thiếu cơ chế triển khai hiệu quả. Vì vậy, bài toán hiện nay không chỉ là có tiền cho nghiên cứu mà là sử dụng nguồn lực đó như thế nào để tạo ra năng suất, chất lượng và hiệu quả thực sự. Đây là bài toán khó về hiệu quả đầu tư cho khoa học, công nghệ.

- Theo ông, cần làm gì để các sản phẩm công nghệ chiến lược thực sự đi vào đời sống và tạo giá trị kinh tế?

PGS.TS Nguyễn Thường Lạng: Khi đã xác định 10 công nghệ chiến lược và 30 sản phẩm công nghệ chiến lược thì vấn đề đặt ra là ai sẽ làm, làm ra cho ai và thị trường nào sẽ tiêu thụ các sản phẩm đó. Do đó, phải hình thành được hệ thống thương mại hóa và thị trường cho khoa học công nghệ, tức là phải có cả người mua lẫn người bán. Chính phủ cần tạo cơ chế và hỗ trợ nguồn lực để các đơn vị nghiên cứu triển khai công việc. Nhưng sau đó phải có doanh nghiệp tiếp nhận, ứng dụng và tiêu thụ các sản phẩm nghiên cứu.

Nếu trường đại học hay viện nghiên cứu tạo ra sản phẩm nhưng không có thị trường thì rất nhanh sẽ lạc hậu, nhất là trong bối cảnh công nghệ thay đổi liên tục. Vì vậy, nghiên cứu cần gắn với nhu cầu thị trường hoặc cơ chế đặt hàng cụ thể.

Theo tôi, Việt Nam cũng nên chú trọng phát triển các sản phẩm công nghệ lưỡng dụng, có thể ứng dụng đồng thời trong kinh tế và quốc phòng. Khi đó, thị trường sẽ rộng hơn, khả năng ứng dụng cao hơn và giảm rủi ro đầu ra cho sản phẩm nghiên cứu.

Ngoài ra, thị trường vẫn là yếu tố then chốt để tạo sức bật cho phát triển công nghiệp và khoa học, công nghệ. Công nghệ dù hiện đại đến đâu nhưng doanh nghiệp không hấp thụ được thì hiệu quả cũng không phát huy. Đây cũng là lý do kinh tế số của Việt Nam hiện mới chiếm khoảng 14,2% GDP. Nếu khả năng hấp thụ công nghệ tốt hơn, tỷ trọng này hoàn toàn có thể tăng lên 17-18% và mục tiêu đến năm 2030 đạt khoảng 30% là khả thi.

Nếu triển khai thành công, tôi cho rằng, quyết định này không chỉ góp phần hình thành mô hình tăng trưởng mới mà còn tạo chuyển biến về năng suất lao động, nâng cao đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), xây dựng đội ngũ nhân lực chất lượng cao và thu hút thêm các “đại bàng” công nghệ vào Việt Nam. Đây có thể trở thành sức bật chưa từng có cho nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tới.

Xin cảm ơn ông!

Lượt xem: 4
Nguồn:Báo Công Thương Sao chép liên kết
Trở lại đầu trang