Phát triển hạ tầng số Việt Nam: Từ chính sách, chiến lược đến thực thi đi vào đời sống
Lần đầu tiên, Việt Nam nằm trong số ít thị trường lọt vào top 15 thế giới về cả tốc độ mạng di động và cố định. Trong bảng xếp hạng mới nhất của Ookla, ngoài Việt Nam, chỉ có Singapore, UAE, Mỹ, Hàn Quốc, Đan Mạch, Kuwait trong nhóm này.
Tư duy chỉ đạo xuyên suốt về hạ tầng số
Nghị quyết 57/NQ-TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (KHCN, ĐMST và CĐS) quốc gia đã yêu cầu phát triển hạ tầng viễn thông, Internet đáp ứng yêu cầu dự phòng, kết nối, an toàn, bền vững, hệ thống truyền dẫn dữ liệu qua vệ tinh, mạng cáp quang băng thông rộng tốc độ cao phủ sóng toàn quốc, mạng thông tin di động 5G, 6G và các thế hệ tiếp theo.
Bên cạnh đó, Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Mạnh Hùng cũng đã có những chỉ đạo định hướng cụ thể về phát triển hạ tầng số, tạo nền tảng cho chính phủ số - kinh tế số - xã hội số.
“Hạ tầng số trở thành hạ tầng chiến lược như giao thông, điện. Hạ tầng này phải phổ cập, băng thông siêu rộng, dung lượng siêu lớn, xanh và an toàn. Hạ tầng số trở thành hạ tầng của cả nền kinh tế. Hạ tầng số được quy hoạch, triển khai song song, đồng bộ với hạ tầng giao thông, hạ tầng điện, hạ tầng chiếu sáng, hạ tầng công trình ngầm, các hạ tầng kỹ thuật khác”, Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Mạnh Hùng đã yêu cầu.

Phát triển hạ tầng số với những giải pháp sáng tạo, đột phá
Dưới sự chỉ đạo, định hướng của Bộ trưởng Bộ KH&CN, theo Cục Viễn thông, tiến trình dẫn dắt thúc đẩy phát triển hạ tầng số tại Việt Nam đã từng bước được cụ thể hóa thành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, các chiến lược, các kế hoạch hành động mang tính thực tiễn cao với những giải pháp sáng tạo, đột phá.
Lần đầu tiên, khái niệm hạ tầng số được định danh ở tầm luật, tạo hành lang pháp lý để dẫn dắt ba trụ cột của hạ tầng số là: Hạ tầng viễn thông, hạ tầng trung tâm dữ liệu - điện toán đám mây và hạ tầng vật lý - số.
Hạ tầng viễn thông được xác định là lớp nền tảng cơ bản, trụ cột xương sống của hạ tầng số quốc gia với các định hướng, dẫn dắt:
Chiến lược hạ tầng số đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030 được phê duyệt theo Quyết định 1132/QĐ-TTg ngày 09/10/2024 của Thủ tướng Chính phủ, đặt ra yêu cầu xây dựng hạ tầng số đồng bộ, hiện đại, an toàn và tự chủ, đóng vai trò nền tảng cho chuyển đổi số toàn diện và phát triển bền vững quốc gia trong dài hạn.
Kế hoạch phát triển hạ tầng số thời kỳ 2025 - 2030 được phê duyệt theo Quyết định số 912/QĐ-BKHCN ngày 18/5/2025 của Bộ KH&CN, là bước cụ thể hóa quan trọng các mục tiêu phát triển KHCN và CĐS đã được nêu tại Nghị quyết 57-NQ/TW; đặt nền móng hạ tầng cho quốc gia số, thúc đẩy ĐMST và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong giai đoạn mới.
Lần đầu tiên, chiến lược phát triển hệ thống cáp quang quốc tế của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2035 được phê duyệt theo Quyết định số 977/QĐ-BTTTT ngày 14/6/2024 để phát triển đột phá hệ thống cáp quang quốc tế của Việt Nam, thúc đẩy DN Việt Nam sớm làm chủ mạng cáp quang quốc tế, giảm phụ thuộc vào nước ngoài, đáp ứng đầy đủ nhu cầu kết nối quốc tế cho phát triển kinh tế số, xã hội số, quốc phòng - an ninh.
Kế hoạch nâng cao chất lượng mạng viễn thông di động Việt Nam đến năm 2025 được phê duyệt theo quyết số 1110/QĐ-BTTTT ngày 02/7/2024, góp phần cải thiện rõ rệt chất lượng dịch vụ viễn thông của Việt Nam.
Tổ chức thực hiện và giải pháp đột phá
Với tầm nhìn, định hướng của Bộ trưởng Bộ KH&CN, các chiến lược, kế hoạch mang tính dẫn dắt toàn ngành đã được trình ban hành. Đồng thời, việc tổ chức được triển khai quyết liệt, hiệu quả, đem lại các bước tiến nổi bật của hạ tầng số trong năm vừa qua trên cả 3 trụ cột.
Các biện pháp hài hoà, tổng thể từ tháo gỡ chính sách, kinh tế, kỹ thuật, tạo động lực cạnh tranh được áp dụng hài hoà, tổng thể gồm:
Thứ nhất, đo lường, đánh giá chất lượng mạng di động thông qua ứng dụng I-speed, được công bố định kỳ chất lượng hàng tháng đến cấp xã tạo động lực cạnh tranh giữa các mạng di động của Việt Nam.
Thứ hai, phối hợp chặt chẽ với địa phương, định kỳ đôn đốc xếp hạng việc sử dụng ứng dụng I-speed trên địa bàn để tạo cạnh tranh, thúc đẩy sử dụng để chuẩn hoá dữ liệu.
Thứ ba, chỉ đạo thúc đẩy triển khai nhanh 5G toàn quốc ngay trong năm 2025. Bên cạnh đó, có cơ chế khen thưởng Nhà nước hỗ trợ 15% chi phí thiết bị trạm 5G nếu nhà mạng triển khai tối thiểu 20.000 trạm 5G trong năm 2025.
Thứ tư, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn mạng di động. Việt Nam hiện có hệ thống quy chuẩn về chất lượng mạng 5G cao top đầu thế giới.
Thứ năm, xóa bỏ thôn/bản lõm sóng, cho phép thí điểm có kiểm soát triển khai dịch vụ viễn thông sử dụng công nghệ vệ tinh quỹ đạo tầm thấp không giới hạn tỷ lệ sở hữu cổ phần, phần vốn góp hoặc tỷ lệ đóng góp của nhà đầu tư nước ngoài.
Triển khai Nghị định số 295/2025/NĐ-CP ngày 15/11/2025 của Chính phủ sử dụng Quỹ Dịch vụ Viễn thông Công ích (VTCI) phủ sóng Internet băng rộng khu vực đặc biệt khó khăn, hỗ trợ cước cho hộ nghèo, hộ cận nghèo sử dụng dịch vụ Internet.
Thứ sáu, thúc đẩy triển khai cáp quang quốc tế với cách tiếp cận hoàn toàn mới, thúc đẩy hài hoà kết nối đảm bảo yếu tố dự phòng, đa hướng, làm chủ; tháo gỡ chính sách cho phép chỉ định thầu hoặc áp dụng thông lệ quốc tế trong việc lựa chọn nhà thầu để rút ngắn thời gian triển khai 1 tuyến cáp từ 4 - 5 năm xuống còn 2 - 3 năm.
Thứ bảy, phối hợp với địa phương tháo gỡ có khăn cho doanh nghiệp (DN) trong công tác phát triển hạ tầng viễn thông.
Thứ tám, đấu giá thành công các tần số mới phục vụ nâng cao chất lượng mạng lưới.
Thứ chín, các chính sách điều hành cước hiệu quả, giúp các DN tăng trưởng doanh thu, tạo động lực tái đầu tư nâng cấp hạ tầng mạng lưới.
Lần đầu tiên cả Internet cố định và di động cùng lọt Top 15 toàn cầu
Theo số liệu thống kê của Cục Viễn thông, tốc độ Internet mạng băng rộng di động đạt xấp xỉ 160 Mbps (tăng hơn 124% so với cùng kỳ năm 2024) đứng thứ 15/104 quốc gia. Tốc độ Internet cố định đạt xấp xỉ 271,95 Mbps (tăng hơn 77% so với cùng kỳ năm 2024) đứng thứ 10/154 quốc gia (theo Speedtest Ookla tháng 10/2025).
Như vậy, lần đầu tiên, cả Internet cố định và di động cùng vào Top 15 toàn cầu. Việt Nam nằm trong số ít thị trường vào top 15 thế giới về cả tốc độ mạng di động và cố định. Trong bảng xếp hạng mới nhất của Ookla, ngoài Việt Nam, chỉ có Singapore, UAE, Mỹ, Hàn Quốc, Đan Mạch, Kuwait trong nhóm này.
Tổng số trạm 5G đã triển khai là hơn 33.000 trạm 5G, trong đó có hơn 2.500 trạm do Viettel sản xuất. Trong năm 2025, Việt Nam đã triển khai được hơn 26.000 trạm 5G (Viettel công bố hoàn thành triển khai hơn 20.000 trạm 5G chỉ riêng trong năm 2025, trong đó có hơn 2.000 trạm do Viettel sản xuất); Phủ sóng 90% dân số với vùng phủ ngoài trời (outdoor), 70% dân số với vùng phủ trong nhà (Indoor).
Cùng với đó, hơn 1,2 triệu km cáp quang được triển khai tới 100% xã/phường trên toàn quốc. Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng cáp quang đạt hơn 87,6%.
Việt Nam đã đưa thêm 2 tuyến cáp biển ADC và SJC2 vào hoạt động, dung lượng cáp quang biển quốc tế tăng gần 3 lần (từ 34 Tbps lên 80Tbps), góp phần tăng đáng kể tổng băng thông kết nối quốc tế, nâng cao năng lực truyền dẫn, bảo đảm dự phòng an toàn thông tin. Đồng thời, việc có thêm hai tuyến cáp quang biển hỗ trợ tích cực cho việc phát triển kinh tế số, dịch vụ trực tuyến chất lượng cao và hội nhập sâu rộng của Việt Nam với khu vực và thế giới.
Tuyến cáp đất liền VSTN cũng đã được vào khai thác. Đây là tuyến cáp quang đất liền quốc tế đầu tiên do Tập đoàn VNPT trực tiếp triển khai và quản lý, khai thác trên toàn tuyến, có chiều dài 3.900 km, kết nối xuyên biên giới từ Việt Nam (Đà Nẵng) đến Singapore góp phần khẳng định vai trò kết nối chủ động của Việt Nam trong không gian số ASEAN.
Việt Nam cũng đã gia nhập nhóm 5 nước đầu tiên sản xuất được thiết bị mạng 5G, sau Thụy Điển, Phần Lan, Trung Quốc và Hàn Quốc và chính thức được Gartner ghi nhận.
Mạng băng rộng phủ sóng 99% dân số
Theo Cục Viễn thông, định hướng phát triển đến năm 2030 của lĩnh vực là 100% người sử dụng có khả năng truy nhập cáp quang với tốc độ 1Gb/s trở lên. Mạng băng rộng di động 5G sẽ phủ sóng 99% dân số. Xây dựng, bảo đảm năng lực, sẵn sàng triển khai thử nghiệm mạng di động 6G.
Việt Nam có ít nhất 15 tuyến cáp quang biển. Tổng dung lượng thiết kế cáp quang trên biển là 350 Tbps trở lên. Dự kiến hoàn thành và đưa vào sử dụng thêm tối thiểu 2 tuyến cáp quang biển do Việt Nam làm chủ.





In bài viết






















