Tháo gỡ điểm nghẽn trong cấp mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cơ bản thống nhất phương án đơn giản hóa thủ tục cấp mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói, đồng thời bổ sung cơ chế xác nhận của cấp xã nhằm tháo gỡ ngay vướng mắc cho sầu riêng và các ngành hàng xuất khẩu.
Chiều 13/7, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội nghị góp ý Dự thảo Nghị quyết của Chính phủ quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.
Gỡ vướng thủ tục, tạo thuận lợi cho cấp mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói
Phát biểu tại Hội nghị, ông Nguyễn Hoàng Hiệp, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhấn mạnh, việc hoàn thiện dự thảo Nghị quyết đang được triển khai trong thời gian rất gấp nhằm kịp thời tháo gỡ những vướng mắc trong cấp mã số vùng trồng, phục vụ xuất khẩu nông sản, đặc biệt là sầu riêng tại khu vực Tây Nguyên và chỉ còn khoảng 10 ngày nữa bước vào chính vụ, trong khi nhiều địa phương đang gặp khó khăn khi triển khai các quy định hiện hành.

Hội nghị góp ý Dự thảo Nghị quyết của Chính phủ quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.
Song song với việc sửa đổi toàn diện Nghị định số 38/2026/NĐ-CP, Chính phủ thống nhất ban hành một nghị quyết để xử lý ngay các vướng mắc cấp bách trong cấp mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói. Bộ đặt ba mục tiêu hoàn thiện, công bố và đưa các thủ tục hành chính mới lên môi trường trực tuyến từ ngày 15/7.
Thứ nhất là quy định diện tích tối thiểu 10 ha đối với vùng trồng, đặc biệt ở Tây Nguyên, có số lượng lớn vùng trồng quy mô nhỏ nên không đáp ứng điều kiện này. Dự thảo mới định hướng cấp mã số trên cơ sở đề xuất của cá nhân, hộ gia đình, nhóm hộ, hợp tác xã, tổ chức hoặc doanh nghiệp mà không đặt nặng yếu tố diện tích.
Thứ hai, hoàn thiện quy định đối với mô hình trồng xen, Quá trình triển khai cho thấy nhiều địa phương chưa thống nhất cách hiểu quy định về trồng xen trong Nghị định số 38/2026/NĐ-CP, dẫn tới lúng túng khi cấp mã số vùng trồng.
Thứ ba, quy trình cấp mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói. Quan điểm của Bộ là đổi mới phương thức quản lý theo hướng đơn giản hóa thủ tục, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, trong đó việc đăng ký, cấp mã số được thực hiện trực tuyến, cơ quan quản lý nhà nước sẽ tăng cường kiểm tra sau cấp nhằm bảo đảm tính minh bạch và tuân thủ quy định.
“Việc cấp mã số vùng trồng nhanh, gọn và chính xác mới chỉ là điều kiện cần để phục vụ xuất khẩu sầu riêng sắp tới. Để xuất khẩu thông suốt còn nhiều việc khác Bộ và các địa phương phải tiếp tục thực hiện”, Thứ trưởng nhấn mạnh.
Tại Hội nghị, ông Huỳnh Tấn Đạt, Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, cho biết dự thảo hướng tới thống nhất khái niệm "vùng trồng", khắc phục những cách hiểu khác nhau tại địa phương, đồng thời tiếp tục cắt giảm, đơn giản hóa tối đa thủ tục cấp mã số cho tổ chức, cá nhân và hộ sản xuất.

Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Huỳnh Tấn Đạt phát biểu tại Hội nghị.
Theo ông Đạt, mục tiêu cốt lõi của dự thảo là đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số thông qua cổng dịch vụ công trực tuyến, qua đó bảo đảm truy xuất nguồn gốc, đáp ứng yêu cầu về an toàn thực phẩm và kiểm dịch thực vật của các thị trường nhập khẩu.
Trong quá trình xây dựng dự thảo, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật đã đưa ra hai phương án để lấy ý kiến. Phương án 1 là tích hợp dữ liệu vùng trồng với cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, sử dụng mã định danh thửa đất để gắn việc quản lý vùng trồng với thông tin về quyền sử dụng đất.
Đồng thời, dự thảo đề xuất phương án thứ 2 theo hướng quản lý dựa trên cây trồng nhằm giải quyết trước mắt các khó khăn trong thực tiễn. Phương án này tạo điều kiện để người dân dễ dàng kê khai trong bối cảnh nhiều vấn đề pháp lý về đất đai chưa được hoàn thiện, đồng thời phân cấp cho UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm toàn diện trong việc cấp, quản lý và hậu kiểm mã số vùng trồng trên địa bàn.
Theo đại diện cơ quan soạn thảo cho biết, theo phương án 2, hồ sơ đăng ký sẽ được rút gọn tối đa, kết hợp mẫu đơn và bản thuyết minh thành một biểu mẫu thống nhất. Sau khi nộp trên Cổng dịch vụ công quốc gia, trong vòng 3 ngày sẽ được cấp mã số. Trước khi gửi danh sách sang các thị trường yêu cầu đăng ký xuất khẩu, cơ quan chuyên môn cấp tỉnh sẽ thực hiện hậu kiểm.
Góp ý tại hội thảo, nhiều địa phương cho rằng cần dung hòa giữa yêu cầu quản lý và tính khả thi. Bà Đặng Thị Thủy, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Đắk Lắk, nghiêng về phương án gắn mã số với mã định danh thửa đất. Theo bà Thủy, cách làm này sẽ giúp quản lý thống nhất từ Trung ương đến địa phương và giảm rủi ro pháp lý cho cán bộ chuyên môn.
Đắk Lắk hiện quản lý ba nhóm mã số vùng trồng gồm đã được Trung Quốc chấp thuận, đang chờ phê duyệt và đang triển khai theo Nghị định số 38/2026/NĐ-CP. Tỉnh đặt mục tiêu số hóa toàn bộ khoảng 41.000 ha sầu riêng để phục vụ quản lý và kết nối dữ liệu. Tuy nhiên, địa phương cũng cho biết còn nhiều diện tích chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc liên quan đến nông, lâm trường nên đề xuất UBND cấp xã xác nhận diện tích thực tế đối với các trường hợp này.
Trong khi đó, ông Vũ Đình Cường, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Lâm Đồng, cơ bản lựa chọn phương án 2 theo hướng đơn giản hóa thủ tục nhưng đề nghị giao cấp xã thực hiện tiền kiểm mã số vùng trồng và giữ quy định xác nhận đối với trường hợp chưa có mã định danh thửa đất.
Theo bà Nguyễn Thị Tố Trân, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Gia Lai, đồng tình với việc bỏ quy định diện tích tối thiểu nhưng cho rằng cần làm rõ trách nhiệm của UBND cấp xã trong xác nhận nguồn gốc và tình trạng sử dụng đất để tránh dồn toàn bộ rủi ro cho cơ quan chuyên môn cấp tỉnh. Đại diện tỉnh Đồng Tháp cũng thống nhất với phương án 2 nhưng đề nghị giao cấp xã thực hiện tiền kiểm và hậu kiểm mã số vùng trồng, còn mã số cơ sở đóng gói do cấp tỉnh phụ trách.
Hoàn thiện cơ chế quản lý, nâng cao năng lực truy xuất nguồn gốc và xuất khẩu nông sản
Kết luận hội thảo, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp thống nhất lựa chọn phương án 2, đồng thời tiếp thu một số nội dung của phương án 1 nhằm bảo đảm tính khả thi và hiệu quả trong quá trình triển khai.
Thứ trưởng khẳng định thời hạn 10 ngày là cần thiết để bảo đảm kiểm tra kỹ lưỡng và giữ uy tín cho nông sản Việt Nam. “Chỉ cần một vài mã số vi phạm bị nước nhập khẩu trả về cũng có thể ảnh hưởng đến uy tín của cả ngành hàng”, Thứ trưởng lưu ý. Bộ cũng thống nhất bổ sung các biểu mẫu biên bản tiền kiểm, hậu kiểm cùng quy trình kiểm tra vào phụ lục của dự thảo nhằm bảo đảm thống nhất trong quá trình tổ chức thực hiện trên phạm vi cả nước.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp phát biểu kết luận tại Hội nghị.
Đối với mã số vùng trồng phục vụ thị trường trong nước, hồ sơ hợp lệ sẽ được giải quyết trong thời hạn từ 2 đến 3 ngày làm việc. Đối với vùng trồng đăng ký xuất khẩu, cơ quan chuyên môn hoặc UBND cấp xã được giao nhiệm vụ sẽ tiến hành tiền kiểm trong thời hạn tối đa 10 ngày làm việc để đánh giá đầy đủ các điều kiện theo yêu cầu của từng thị trường nhập khẩu trước khi tổng hợp, gửi danh sách mã số ra nước ngoài.
“Theo quy định về thời hạn tiền kiểm là cần thiết nhằm bảo đảm chất lượng công tác thẩm định, giữ vững uy tín của nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế”, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp nhấn mạnh. Đồng thời, chỉ một số ít mã số vùng trồng vi phạm, dẫn đến việc hàng hóa bị cảnh báo hoặc trả về cũng có thể ảnh hưởng đến uy tín của cả ngành hàng và tác động tiêu cực đến hoạt động xuất khẩu.
Việc đổi mới công tác cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói lần này không chỉ phục vụ mục tiêu xuất khẩu mà còn hướng tới xây dựng hệ thống quản lý sản xuất hiện đại, tăng cường truy xuất nguồn gốc, bảo đảm an toàn thực phẩm và nâng cao hiệu quả quản lý đối với cả thị trường trong nước và xuất khẩu.
Đối với thị trường Trung Quốc, Bộ sẽ phối hợp với các bộ, ngành liên quan tiếp tục làm việc với cơ quan chức năng phía Trung Quốc nhằm đẩy nhanh tiến độ công nhận các mã số vùng trồng đã gửi, đồng thời nghiên cứu điều chỉnh các nội dung trong nghị định thư theo hướng nâng cao tính chủ động cho Việt Nam.
Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp cũng đề nghị các Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ động tham mưu UBND các tỉnh, thành phố triển khai một "chiến dịch dữ liệu mã số vùng trồng", tương tự như quá trình xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai trước đây, nhằm đẩy nhanh việc số hóa, chuẩn hóa và cập nhật thông tin vùng trồng trên địa bàn.
Bộ khuyến khích các hộ sản xuất tăng cường liên kết thông qua tổ hợp tác, hợp tác xã để hình thành các vùng nguyên liệu tập trung, quy mô lớn. Theo Thứ trưởng, đây không chỉ là giải pháp giảm số lượng mã số phải cấp, nâng cao hiệu quả quản lý mà còn tạo điều kiện xây dựng thương hiệu nông sản địa phương, nâng cao năng lực cạnh tranh và đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường xuất khẩu.



In bài viết






















