1

Đánh thức dòng vốn ‘ngủ’ trong các quỹ hỗ trợ doanh nghiệp

Trong khi doanh nghiệp nhỏ và vừa khát vốn, những quỹ được thiết kế để hỗ trợ tài chính lại hoạt động “eo uột”. Các con số về giải ngân, bảo lãnh và thu hồi vốn đặt ra câu hỏi lớn hơn chuyện giữ hay bỏ quỹ: Làm thế nào để nguồn lực thực sự vận động và đến được doanh nghiệp?

Đánh thức dòng vốn ‘ngủ’ trong các quỹ hỗ trợ doanh nghiệp
Đánh thức dòng vốn “ngủ” trong các quỹ để hỗ trợ doanh nghiệp phát triển

Nguồn lực có, vì sao tiền chưa chảy?

Sau 13 năm hoạt động, Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở trung ương mới giải ngân khoảng 1.400 tỷ đồng và thu hồi được 1.156 tỷ đồng. Cũng trong khoảng thời gian đó, các quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt doanh số bảo lãnh 43.000 tỷ đồng với 2.100 hợp đồng, nhưng mới khoảng 1.000 doanh nghiệp thụ hưởng. Số tiền phải trả nợ thay là 130 tỷ đồng, trong đó thu hồi được khoảng 24 tỷ đồng.

Đặt những con số trên bên cạnh thực tế doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 98,4% tổng số doanh nghiệp, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn nhìn nhận tiếp cận vốn vẫn là một điểm nghẽn cần tháo gỡ.

“Tiền ở đâu, vốn ở đâu?” cũng là câu hỏi Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đặt ra khi nói về nhu cầu của doanh nghiệp tại một cuộc họp gần đây. Có vốn mới có mặt bằng, thiết bị, khoa học công nghệ. Vì vậy, theo Chủ tịch Quốc hội, khơi thông nguồn lực tài chính là một điểm đột phá then chốt, trong đó khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa cần được xử lý thực chất.

Vấn đề nằm ở chỗ, bên cạnh dòng vốn ngân hàng đã có những công cụ được thiết kế để hỗ trợ doanh nghiệp. Cả nước hiện có 19 trong tổng số 24 quỹ bảo lãnh tín dụng địa phương còn hoạt động. Nhưng Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn đánh giá hoạt động của các quỹ này cùng Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở trung ương vẫn “rất eo uột”, buộc phải tính toán phương án mới để cấu trúc lại hiệu quả hơn.

Nhìn rộng hơn, Bộ trưởng cho biết bình quân mỗi địa phương có khoảng 19-20 quỹ ngoài ngân sách, trung ương có hơn 30 quỹ. Sau khi loại trừ ba quỹ lớn gồm Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế và Bảo hiểm thất nghiệp, tổng số dư các quỹ còn lại lên tới gần 150.000 tỷ đồng. Đây là số dư chung của các quỹ ngoài ngân sách còn lại, không phải nguồn tiền dành riêng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Điều đáng chú ý, theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, không chỉ là quy mô nguồn lực mà còn là cách quản trị. Theo ông, khi cho vay mà không kiểm soát được dòng tiền của đối tượng vay thì rất khó thu hồi nợ. Ngân hàng thương mại có hệ thống kiểm soát tài sản bảo đảm, dòng tiền, doanh thu và chi phí của khách hàng, trong khi các quỹ không có hệ thống quản trị tương tự, chủ yếu thực hiện qua ủy thác nên hoạt động khó khăn.

Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Lê Quang Mạnh tiếp cận vấn đề từ một góc khác. Ông cho rằng, thực tiễn vận hành Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa và Quỹ Bảo lãnh tín dụng cho thấy tiền không sử dụng được còn gắn với câu chuyện về tính thỏa đáng, rủi ro và sự bình đẳng khi nguồn lực nhà nước được dành cho doanh nghiệp cụ thể. Từ đó, ông Lê Quang Mạnh đề nghị chuyển mạnh tư duy từ “hỗ trợ” sang “phát triển”.

Theo ông Mạnh, nếu vẫn chủ yếu xoay quanh các ưu đãi, hỗ trợ cụ thể thì sự thay đổi chưa nhiều. Những biện pháp tạo môi trường kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục và cắt giảm chi phí cần được chú trọng hơn, thay vì để nguồn lực bị phân tán mà hiệu quả không tương xứng.

Chính câu chuyện hiệu quả khiến Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng đặt vấn đề phải đánh giá đầy đủ, có định lượng trước khi quyết định số phận các quỹ. Không thể chỉ nhìn vào việc quỹ hoạt động chưa tốt để lựa chọn ngay phương án duy trì hay giải thể. Cần biết bao nhiêu doanh nghiệp thực sự thụ hưởng, tác động sau hỗ trợ ra sao và nguyên nhân nào khiến công cụ này chưa phát huy hiệu quả.

Từ yêu cầu đó, các lựa chọn được đặt lên bàn gồm tiếp tục duy trì và đổi mới cơ chế hoạt động, nâng cao năng lực tài chính, tổ chức lại, sáp nhập hoặc giải thể…

Không vội bỏ quỹ, phải thay cách vận hành

Dưới góc nhìn của mình, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Phan Văn Mãi cho rằng, không nên đi từ kết quả hoạt động chưa hiệu quả đến quyết định bỏ Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo ông, quỹ hoạt động chưa hiệu quả thời gian qua có thể do công tác tổ chức và cơ chế hoạt động chưa tốt.

“Tiếp cận vốn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa là cực kỳ quan trọng”, ông Phan Văn Mãi nhấn mạnh.

Vì vậy, thay vì loại bỏ, ông đề nghị tái cấu trúc quỹ, gắn với cơ chế bảo lãnh tín dụng và hỗ trợ lãi suất; tập trung vào bảo lãnh tín dụng, hỗ trợ lãi suất, hỗ trợ tiếp cận mặt bằng sản xuất kinh doanh và cả hỗ trợ khởi nghiệp.

Với mặt bằng sản xuất, ông Phan Văn Mãi nêu ví dụ, doanh nghiệp giải quyết từ 50 lao động trở lên, tạo doanh thu tương ứng có thể được hỗ trợ một phần tiền thuê mặt bằng. Theo ông, nếu dùng ngân sách trực tiếp để hỗ trợ sẽ khó, vì vậy có thể nghiên cứu sử dụng quỹ như một công cụ hỗ trợ trực tiếp và thực chất hơn cho doanh nghiệp.

Nhưng, tái cấu trúc quỹ để làm gì? Đặt vấn đề này trực tiếp vào mối quan hệ giữa quỹ và tín dụng ngân hàng, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đề cập hướng khuyến khích tổ chức tín dụng cho vay dựa trên dòng tiền, chuỗi giá trị, tài sản vô hình, quyền sở hữu trí tuệ và các loại tài sản khác, thay vì chỉ dựa vào thế chấp bất động sản.

Cách tiếp cận này mở thêm khả năng cho doanh nghiệp thiếu tài sản thế chấp, nhưng rủi ro của ngân hàng không vì thế mà mất đi. Chủ tịch Quốc hội chỉ rõ ngân hàng thương mại vẫn e ngại rủi ro đối với tài sản vô hình. Do đó, cần có khung định giá tài sản trí tuệ, tài sản số rõ ràng cùng cơ chế chia sẻ rủi ro từ quỹ bảo lãnh tín dụng; nếu không, quy định dễ chỉ nằm trên giấy.

Nếu bảo lãnh và chia sẻ rủi ro là một hướng để quỹ hỗ trợ dòng vốn, hiệu quả cuối cùng vẫn phải được đo ở doanh nghiệp. Bà Nguyễn Thanh Hải, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường, lưu ý các báo cáo đã có nhiều số liệu về số lượt đào tạo, tư vấn, kết nối, hỗ trợ nhưng còn thiếu chuỗi số liệu về kết quả tác động sau hỗ trợ.

Theo bà Nguyễn Thanh Hải, cần bổ sung các chỉ tiêu về năng suất, doanh thu, việc làm, mức độ chuyển đổi số, đổi mới công nghệ, khả năng tiếp cận vốn, tỷ lệ sống sót và khả năng tham gia chuỗi giá trị. Thước đo vì vậy không chỉ dừng ở việc đã dành bao nhiêu nguồn lực hay có bao nhiêu lượt hỗ trợ, mà phải phản ánh được kết quả doanh nghiệp nhận được sau hỗ trợ.

Với các cơ chế tài chính mới như đồng đầu tư, tài chính hỗn hợp, vốn mồi và phiếu hỗ trợ, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng cho rằng cần làm rõ chủ thể, thẩm quyền, nguồn lực, cơ chế quản lý, chia sẻ rủi ro, hậu kiểm và trách nhiệm giải trình. Nguồn lực nhà nước phải được sử dụng đúng đối tượng, có trọng tâm, có thời hạn rõ ràng, công khai, minh bạch và gắn với kết quả đầu ra.

Riêng với Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa và Quỹ Bảo lãnh tín dụng, bà Nguyễn Thị Hồng cho rằng cần rà soát, đánh giá toàn diện, định lượng rõ thực trạng và hiệu quả hoạt động, làm rõ nguyên nhân hạn chế; từ đó so sánh kỹ các phương án tiếp tục duy trì và đổi mới mạnh cơ chế hoạt động, sáp nhập, tổ chức lại hoặc giải thể.

Nếu không duy trì quỹ, phải thiết kế được công cụ, cơ chế thay thế để thực hiện chức năng chia sẻ rủi ro, bảo đảm không làm gián đoạn chính sách và không làm giảm khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp. Còn các chương trình hỗ trợ phải được đánh giá định kỳ ba năm một lần để làm căn cứ điều chỉnh hoặc chấm dứt nếu không hiệu quả.

“Phải đánh giá, định lượng hiệu quả quỹ. Nếu không duy trì, phải có công cụ thay thế để chia sẻ rủi ro, không làm giảm khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp”, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng nhấn mạnh.

Nguồn:Thời báo Ngân hàng Sao chép liên kết
Trở lại đầu trang