FDI chiếm 80% xuất khẩu, doanh nghiệp Việt vẫn loay hoay ở khâu giá trị thấp
Hơn 80% kim ngạch xuất khẩu đến từ khu vực FDI, nhưng mức độ liên kết với doanh nghiệp trong nước vẫn hạn chế. Chuyên gia cho rằng Việt Nam cần nhanh chóng nâng năng suất, ứng dụng AI và tăng khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Đây là nhận định của chuyên gia kinh tế - tài chính quốc tế Trần Quốc Hùng tại buổi giao lưu chuyên đề với chủ đề "Cạnh tranh địa kinh tế toàn cầu, tái cấu trúc chuỗi cung ứng và cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam”, diễn ra mới đây, do Câu lạc bộ Doanh nghiệp dẫn đầu LBC tổ chức.
Bài toán nhân lực và năng suất
Theo chuyên gia Trần Quốc Hùng, trong nhiều năm, Việt Nam được hưởng lợi từ quá trình dịch chuyển sản xuất toàn cầu. Các tập đoàn đa quốc gia tìm cách phân tán sản xuất theo chiến lược China Plus One hoặc Plus Two, nhằm giảm rủi ro từ việc tập trung quá nhiều hoạt động tại một quốc gia.
Trong đó, Việt Nam đóng vai trò như một "nền kinh tế kết nối" giữa Trung Quốc, Mỹ và các thị trường thứ ba, thu hút bình quân 35-38 tỷ USD vốn FDI đăng ký mỗi năm. Tuy nhiên, lợi thế kết nối không đồng nghĩa với việc chúng ta nắm được giá trị cao trong chuỗi cung ứng. Dù doanh nghiệp FDI chiếm khoảng 80% tổng kim ngạch xuất khẩu, ông Hùng cho rằng khu vực này vẫn vận hành như một "ốc đảo biệt lập".
Điển hình như một tập đoàn công nghệ lớn (S.) đầu tư quy mô khổng lồ vào Việt Nam, song doanh nghiệp nội địa chỉ cung cấp được bao bì, đóng gói ở phân khúc giá trị thấp; toàn bộ linh kiện cốt lõi, bán thành phẩm công nghệ cao họ đều nhập khẩu từ bên ngoài.
Theo chuyên gia Trần Quốc Hùng, các doanh nghiệp FDI vẫn đang hoạt động như một ốc đảo. Ảnh: Thu Hà
Chính vì vậy, chỉ số giá trị gia tăng nội địa (DVA) của Việt Nam chỉ đạt khoảng 39%, thấp hơn đáng kể so với mức 40-60% của các nền kinh tế mới nổi. Mức độ liên kết đầu ra cũng được đánh giá là còn thấp. Theo ông Hùng, trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu tiếp tục tái cấu trúc, cơ hội không chỉ nằm ở việc được chọn làm cứ điểm sản xuất, mà phụ thuộc vào năng lực trở thành mắt xích thực sự trong chuỗi giá trị.
Muốn làm được điều này, nhân lực là một trong những yếu tố then chốt.
Đại diện một doanh nghiệp cảnh báo nguy cơ Việt Nam đối mặt với tình trạng “chưa giàu đã già”. Đến năm 2036, ước tính 14-15% dân số sẽ trên 65 tuổi. Nếu xu hướng này tiếp diễn, bài toán thiếu lao động sẽ trở nên rõ hơn. Khi ấy, robot và AI không còn đơn thuần là công cụ giúp doanh nghiệp giảm chi phí, mà trở thành một phần trong bài toán duy trì năng lực sản xuất của nền kinh tế.
Bà Phạm Thị Mỹ Lệ, Chủ tịch HĐQT L&A, nhìn nhận, ứng dụng AI có thể giúp năng suất tăng 1,5-2 lần tùy công đoạn. Vì vậy, đào tạo nhân lực phải gắn liền với câu chuyện công nghệ.
Đồng tình, ông Trần Quốc Hùng phân tích tỷ lệ lao động có chứng chỉ, bằng cấp của Việt Nam hiện chỉ khoảng 21% trong khi mục tiêu là 35-40%. Tuy nhiên, thời đại AI đòi hỏi người lao động phải có năng lực học lại và thích ứng liên tục chứ không chỉ dừng ở văn bằng.
Cũng theo ông Hùng, hiện tốc độ gia tăng dân số giảm còn khoảng 0,6%/năm, mô hình tăng trưởng dựa vào mở rộng lực lượng lao động giá rẻ sẽ hết dư địa. Trong khi, để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 8,5% vào năm 2030 hoặc tiến tới hai con số, năng suất lao động bắt buộc phải tăng 8,5-9% mỗi năm (trong giai đoạn 2016-2023 chỉ đóng góp khoảng 5,6%).
"Nói cách khác, cùng một lao động nhưng phải tạo ra nhiều sản lượng, cùng một đồng vốn phải tạo ra nhiều giá trị, cùng một nhà máy phải sản xuất được nhiều hơn, nhanh hơn và chi phí thấp hơn. Lời giải có thể nằm ngay trong từng dây chuyền sản xuất, từng quy trình quản trị và quyết định đầu tư công nghệ", ông Hùng nói.
Vì thế, bài toán đặt ra cho doanh nghiệp là đẩy mạnh tự động hóa và AI, nâng năng suất lao động thông qua việc kế thừa, mua, tiếp nhận, thích nghi và đưa công nghệ mới vào sản xuất nhanh hơn. Trong khi đó, Chính phủ cần có chính sách hỗ trợ sinh thêm con và nghiên cứu việc kéo dài độ tuổi làm việc.
Thời đại AI đòi hỏi người lao động phải có năng lực thích ứng. Ảnh: Thu Hà
Bên cạnh bài toán nhân lực và năng suất, đại diện Nhựa Duy Tân bày tỏ thêm áp lực cạnh tranh gay gắt về giá từ các nhà sản xuất lớn như Trung Quốc, tạo thêm rào cản cho doanh nghiệp nội địa phát triển trước các ông lớn FDI.
Cơ hội của doanh nghiệp Việt nằm ở khả năng thay đổi
Tại buổi chuyên đề, một trong những vấn đề đáng chú ý khác được bàn luận là cách để Việt Nam quản lý dòng vốn FDI. Ông Trần Quốc Hùng phân tích, một doanh nghiệp FDI có thể mang vào Việt Nam vốn, công nghệ, thị trường và phương thức quản trị, nhưng nếu chuỗi cung ứng vẫn chủ yếu nằm ngoài Việt Nam, tác động đối với doanh nghiệp nội địa sẽ bị giới hạn.
Vì vậy, liên kết giữa FDI và doanh nghiệp Việt trở thành một thước đo quan trọng. Doanh nghiệp Việt cũng phải chuẩn bị cho mối liên kết ấy bằng chính năng lực của mình, từ quản trị, chất lượng, tiêu chuẩn, khả năng giao hàng, công nghệ và truy xuất nguồn gốc... để bước vào chuỗi cung ứng.
Để quản trị dòng vốn FDI và tăng liên kết nội địa, ông Hùng đưa ra nhiều đề xuất.
Đầu tiên, cần chuyển hướng chính sách thu hút FDI từ chiều rộng sang thực chất. Nhà nước không chỉ tập trung ưu đãi mời gọi vốn, mà cần đưa ra cam kết bắt buộc như doanh nghiệp FDI phải có lộ trình đào tạo nhân sự Việt Nam thay thế lao động nước ngoài trong vòng 5 năm, đồng thời phải liên doanh, liên kết để doanh nghiệp Việt tham gia cung ứng bán thành phẩm vào chuỗi giá trị.
Thứ hai, kích hoạt tinh thần đổi mới sáng tạo từ khối doanh nghiệp khởi nghiệp. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các doanh nghiệp hiện hữu thường có sức ỳ lớn, ngại đập bỏ dây chuyền cũ.
Do đó, động lực nâng cao năng suất tổng thể phải đến từ các doanh nghiệp mới thành lập, nơi dám đầu tư ngay công nghệ mới, phần mềm, tự động hóa và ứng dụng AI. Nhà nước cần cải cách thể chế để doanh nghiệp gia nhập thị trường nhanh và thủ tục phá sản, rút lui khỏi thị trường cũng thuận tiện, tạo vòng quay vốn và lao động linh hoạt.
Thứ ba, huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong nước. Ông Hùng nhìn nhận, doanh nghiệp nội đang phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng và vốn tích lũy gia đình. Trong khi đó, dòng tiền nhàn rỗi trong dân lại chảy vào các kênh tích trữ như vàng hay bất động sản.
Từ đó, ông Hùng khuyến nghị Việt Nam cần phát triển đồng bộ thị trường vốn từ việc thiết lập thị trường cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp và các quỹ tài chính chuyên nghiệp như quỹ đầu tư tương hỗ, quỹ hưu bổng. Khi dòng vốn tiết kiệm của người dân được dẫn dắt vào sản xuất thông qua các định chế minh bạch, doanh nghiệp Việt sẽ có đủ nguồn lực để từng bước khẳng định vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu.



In bài viết






















