Vì sao cùng một loại nông sản nhưng giá bán chênh nhau cả chục lần?

Cùng một loại nông sản nhưng giá bán có thể chênh nhau cả chục lần, đằng sau mức giá cao là câu chuyện về chất lượng, quy trình và thương hiệu.

Tại TP.HCM, cùng là sầu riêng Ri6 nhưng có nơi bán 40.000 - 50.000 đồng/kg, trong khi một số cửa hàng niêm yết hơn 300.000 đồng/kg.

Cùng là bơ, có loại bán tại vườn chưa tới 10.000 đồng/kg nhưng cũng có sản phẩm được bán tới 160.000 đồng/kg và khách vẫn phải đặt trước nhiều tháng. Điều gì tạo nên khoảng cách giá tưởng chừng khó tin này?

Cùng giống nhưng có cùng chất lượng?

Nhiều người cho rằng, khác biệt về giống dẫn đến sự chênh lệch về giá. Chẳng hạn cùng là sầu riêng nhưng giống Ri6 giá sẽ mềm hơn rất nhiều so với sầu riêng Black Thorn hay Musang King.

Thế nhưng ngay cả khi cùng một giống, giá bán cũng có sự chênh lệch lớn do sự khác biệt về quy trình sản xuất, chất lượng, tỷ lệ trái đạt chuẩn, mức độ an toàn thực phẩm, thương hiệu và phân khúc thị trường mà sản phẩm hướng tới.

Sầu riêng Ri6 giá 40.000 đồng/kg được bày bán khá phổ biến.

Sầu riêng Ri6 giá 40.000 đồng/kg được bày bán khá phổ biến.

Ông Nguyễn Văn Mười, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, Chủ tịch Câu lạc bộ Doanh nghiệp Nông nghiệp Nhiệt đới, cho biết trên thị trường hiện nay tồn tại rất nhiều mức giá khác nhau đối với cùng một loại nông sản.

Theo ông, những mức giá quá cao hoặc quá thấp thường chỉ là các trường hợp cá biệt, không phản ánh mặt bằng chung của thị trường. Vì vậy, khi đánh giá giá trị của một loại nông sản cần nhìn vào mức giá mang tính đại diện thay vì chỉ so sánh giữa hai điểm bán có mức giá chênh lệch lớn.

Lấy ví dụ với sầu riêng, ông Mười cho biết tại TP.HCM có nơi bán lẻ chỉ khoảng 50.000/kg, nhưng cũng có loại được bán với giá vài trăm nghìn đồng mỗi kilogram.

Người tiêu dùng thường nhìn vào tên giống, chẳng hạn đều là Ri6 hoặc Dona, rồi đặt câu hỏi vì sao giá chênh nhau nhiều như vậy. Thực tế, cùng một giống nhưng chất lượng sản phẩm có thể hoàn toàn khác nhau”, ông nói.

Sầu riêng Ri6 được bán với giá cao tại nhiều cửa hàng trái cây.

Sầu riêng Ri6 được bán với giá cao tại nhiều cửa hàng trái cây.

Theo ông Mười, yếu tố quyết định giá trị không chỉ nằm ở giống mà còn ở tỷ lệ trái đạt chuẩn. Chỉ riêng sự khác biệt giữa hàng loại A và loại B đã có thể tạo ra mức chênh khoảng 20.000 đồng/kg.

Khoảng cách này càng lớn khi sản phẩm được đưa vào các hệ thống bán lẻ cao cấp hoặc phục vụ xuất khẩu, nơi yêu cầu khắt khe về kích cỡ, mẫu mã, độ đồng đều, an toàn thực phẩm và khả năng truy xuất nguồn gốc.

Ông Mười dẫn chứng có những trang trại sầu riêng áp dụng tốt các biện pháp kỹ thuật và quản lý vườn, tỷ lệ trái loại 1 đạt tới 70-80%. Trong khi đó, ở nhiều vườn sản xuất theo phương thức truyền thống, tỷ lệ này chỉ khoảng 20 - 30%.

Chính tỷ lệ hàng loại 1 cao giúp sản phẩm có giá bán vượt trội, đồng thời đáp ứng được yêu cầu của các hệ thống phân phối hiện đại và thị trường xuất khẩu.

Theo ông Nguyễn Thế Tùng, Giám đốc HTX Nông nghiệp Thông minh Phước Sơn (TP Đồng Nai), nhiều người vẫn giữ quan niệm càng nhiều trái thì càng có thu nhập cao. Tuy nhiên, trong sản xuất hiện đại, tư duy này không còn phù hợp.

Ông cho rằng các trang trại quy mô lớn không nên chạy theo sản lượng mà cần tập trung chuẩn hóa quy trình sản xuất để nâng cao chất lượng và mẫu mã sản phẩm.

Những trái sầu riêng đạt tiêu chuẩn về chất lượng, mẫu mã và an toàn có thể bán với giá cao hơn nhiều so với sản phẩm sản xuất theo phương thức truyền thống.

Những trái sầu riêng đạt tiêu chuẩn về chất lượng, mẫu mã và an toàn có thể bán với giá cao hơn nhiều so với sản phẩm sản xuất theo phương thức truyền thống.

Theo ông, một trong những kỹ thuật quan trọng đối với cây sầu riêng là tỉa trái. Người trồng phải chủ động loại bỏ những trái không đạt yêu cầu, chỉ giữ lại số lượng phù hợp để cây tập trung dinh dưỡng nuôi những trái tốt nhất.

ong-Muoi.png

Ông Nguyễn Văn Mười

Nhiều nhà vườn vẫn tiếc, giữ quá nhiều trái nên cuối cùng trái nhỏ, mẫu mã không đẹp, chất lượng không đồng đều. Ngược lại, những người làm bài bản sẵn sàng bỏ những trái không đạt ngay từ đầu để đổi lấy tỷ lệ trái loại 1 cao hơn”, ông phân tích.

Ông Tùng cũng cho rằng, kỹ thuật chỉ là một phần của câu chuyện. Để tạo ra sản phẩm có giá trị cao, toàn bộ quá trình sản xuất phải được chuẩn hóa ngay từ khi xuống giống.

Trang trại của ông hiện liên kết cùng nhiều hộ dân với tổng diện tích khoảng 80 ha, sản lượng hằng năm khoảng 1.200 tấn sầu riêng. Tuy nhiên, thay vì tập trung mở rộng sản lượng, HTX ưu tiên xây dựng quy trình canh tác đồng bộ theo hướng an toàn, kiểm soát chất lượng ở mọi khâu.

Theo ông Tùng, cây trồng được chăm sóc dựa trên hệ sinh thái, tăng cường sử dụng vi sinh vật, vật tư nông nghiệp hữu cơ và tuân thủ nghiêm nguyên tắc 4 đúng (đúng liều lượng, đúng loại, đúng thời điểm, đúng phương cách) trong sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật.

Đặc biệt, toàn bộ đất, nguồn nước, vật tư đầu vào đều được kiểm nghiệm định kỳ. Trái cũng được lấy mẫu kiểm tra trước thu hoạch để bảo đảm đáp ứng yêu cầu về dư lượng và an toàn thực phẩm.

Hiện nay, yếu tố đầu tiên không còn là ngon hay không ngon mà là phải an toàn. Khi đáp ứng được tiêu chuẩn an toàn mới tính đến chất lượng và hương vị. Đây cũng là điều kiện tiên quyết để có thể tham gia những thị trường có giá trị cao”, ông Tùng nhấn mạnh.

Muốn bán giá cao phải sản xuất đúng

Giữa lúc giá bơ trên thị trường nhiều thời điểm chỉ còn 15.000-20.000 đồng/kg, thậm chí có nơi nông dân bán tại vườn chưa tới 10.000 đồng/kg, sản phẩm của ông Huỳnh Minh Hoàng (TP Đồng Nai) vẫn duy trì mức giá khoảng 160.000 đồng/kg suốt nhiều năm.

Điều đáng chú ý là dù giá cao gấp nhiều lần mặt bằng chung, sản phẩm vẫn thường xuyên trong tình trạng “cháy hàng”. Khách muốn mua phải đặt trước từ một đến ba tháng, còn các đại lý cũng phải chờ mới đến lượt nhận hàng.

Ông Hoàng (áo xanh) bên trái chia sẻ về quy trình canh tác bơ.

Ông Hoàng (áo xanh) bên trái chia sẻ về quy trình canh tác bơ.

Theo ông Hoàng, mức giá này không đến từ việc làm thương hiệu để bán đắt, mà được hình thành từ hàng loạt tiêu chuẩn khắt khe trong quá trình sản xuất.

Giống bơ mà trang trại đang bảo tồn đã được gia đình gìn giữ qua nhiều thế hệ. Sau khi chuyển sang hướng canh tác hữu cơ và xây dựng thương hiệu riêng khoảng 5-6 năm gần đây, sản phẩm mới được thị trường biết đến rộng rãi.

Để giữ được chất lượng trái đồng đều, trang trại đầu tư mạnh vào quy trình canh tác. Nhiều loại phân bón hữu cơ được nhập khẩu từ nước ngoài. Xây tường cao để cách ly hoàn toàn với nguy cơ hóa chất từ các khu vực sản xuất xung quanh.

Nếu xung quanh phun thuốc, gió có thể mang hóa chất bay sang. Nước mưa cũng có thể cuốn theo dư lượng. Tôi không muốn những rủi ro đó ảnh hưởng đến sản phẩm của mình”, ông nói.

Theo ông, nếu chạy theo sản lượng, thu hoạch sớm hoặc nới lỏng tiêu chuẩn thì có thể bán được nhiều hơn trong ngắn hạn, nhưng thương hiệu sẽ mất đi giá trị mà phải mất rất nhiều năm mới xây dựng được.

Thực tế trên cho thấy khoảng cách giá giữa các sản phẩm cùng tên gọi chủ yếu phản ánh sự khác biệt về chất lượng, quy trình sản xuất và phân khúc thị trường.

Sự chênh lệch giá giữa các loại nông sản không chỉ đến từ giống cây mà còn phụ thuộc vào quy trình sản xuất, tiêu chuẩn chất lượng và thương hiệu.

Sự chênh lệch giá giữa các loại nông sản không chỉ đến từ giống cây mà còn phụ thuộc vào quy trình sản xuất, tiêu chuẩn chất lượng và thương hiệu.

Ở phân khúc cao cấp, người tiêu dùng sẵn sàng trả giá cao để đổi lấy sản phẩm có nguồn gốc rõ ràng, chất lượng ổn định và được kiểm soát chặt chẽ về an toàn thực phẩm.

Ngược lại, phân khúc bình dân hướng đến những người ưu tiên giá rẻ, ít đặt nặng các tiêu chuẩn về mẫu mã hay truy xuất nguồn gốc. “Tiền nào của nấy vẫn là quy luật của thị trường”, ông nhận định.

Theo ông Mười, điều đáng lo không phải là thị trường tồn tại nhiều mức giá, mà là nhiều nông dân vẫn sản xuất theo tư duy cũ, chạy theo sản lượng thay vì chất lượng.

Trong bối cảnh các thị trường xuất khẩu ngày càng siết chặt tiêu chuẩn về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, truy xuất nguồn gốc và quy trình sản xuất, lợi thế cạnh tranh sẽ không còn nằm ở việc thu hoạch được nhiều trái, mà là tỷ lệ trái đạt chuẩn cao.

Đây cũng là hướng đi mà nhiều hợp tác xã và doanh nghiệp đang lựa chọn.

Theo ông Nguyễn Thế Tùng, việc liên kết nông dân thành hợp tác xã không chỉ giúp mở rộng quy mô sản xuất mà còn tạo điều kiện áp dụng đồng bộ các quy trình kỹ thuật, giảm chi phí và kiểm soát chất lượng hiệu quả hơn.

Vườn sầu riêng của HTX Nông nghiệp Thông minh Phước Sơn (TP Đồng Nai) áp dụng quy trình canh tác chuẩn hóa nhằm nâng cao chất lượng trái.

Vườn sầu riêng của HTX Nông nghiệp Thông minh Phước Sơn (TP Đồng Nai) áp dụng quy trình canh tác chuẩn hóa nhằm nâng cao chất lượng trái.

Bên cạnh đó, ngành nông nghiệp cũng cần tăng cường xúc tiến thương mại cho các vùng trồng đạt chuẩn, xây dựng hệ thống dự báo thời tiết chuyên biệt phục vụ sản xuất, đồng thời hỗ trợ nông dân tiếp cận các tiêu chuẩn quốc tế để nâng cao giá trị nông sản.

Khoảng cách giá giữa hai trái sầu riêng hay hai quả bơ vì thế không đơn thuần phản ánh sự khác nhau về giống cây. Đằng sau mỗi ký nông sản có giá cao là cả một chuỗi giá trị gồm điều kiện tự nhiên, kỹ thuật canh tác, kỷ luật sản xuất, kiểm soát chất lượng, xây dựng thương hiệu và niềm tin của người tiêu dùng.

Khi những yếu tố đó được tạo dựng một cách bài bản, mức giá cao không còn là điều bất thường, mà là kết quả tất yếu của quá trình đầu tư lâu dài vào chất lượng. Đây cũng là con đường bền vững để nông sản Việt nâng cao giá trị, thay vì tiếp tục cạnh tranh chủ yếu bằng sản lượng và giá rẻ.

Lượt xem: 0
Nguồn:VTC News Sao chép liên kết
Trở lại đầu trang