1

Bệnh viện lớn tiếp sức trạm y tế

Mới đây, tại phiên thảo luận tổ của kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, Bí thư Thành ủy TPHCM Trần Lưu Quang cho biết thành phố đang nghiên cứu, thí điểm mô hình trạm y tế xã, phường trực thuộc các bệnh viện lớn để tăng cường nhân lực, chuyên môn và khả năng cấp cứu cho người dân.

Thông tin này nhanh chóng nhận được sự quan tâm của các chuyên gia, người dân. Nhiều người cho rằng nếu được tổ chức bài bản mô hình thí điểm này có thể tạo ra thay đổi quan trọng trong cách người dân tiếp cận dịch vụ y tế. Nhưng điều cốt lõi không nằm ở việc đổi tên hay thay đổi đơn vị quản lý mà là làm thế nào để năng lực của tuyến y tế cơ sở thực sự được nâng lên.

Một nghịch lý tồn tại trong hệ thống y tế nhiều năm qua: nơi người dân sống gần nhất lại thường là nơi có ít nguồn lực chuyên môn nhất. Trạm y tế xã, phường nằm ngay trong cộng đồng, hiểu địa bàn, gần người bệnh nhưng không phải lúc nào cũng đủ nhân lực, thiết bị và khả năng xử trí những tình huống vượt quá năng lực thông thường. Trong khi đó, các bệnh viện lớn tập trung đội ngũ chuyên gia, kỹ thuật, kinh nghiệm cấp cứu và hệ thống đào tạo tương đối hoàn chỉnh. Khoảng cách giữa hai đầu của hệ thống vì thế không chỉ là khoảng cách địa lý mà còn là khoảng cách về năng lực chuyên môn.

Một trạm y tế mạnh không thể chỉ dựa vào một vài bác sĩ, điều dưỡng và những trang thiết bị cơ bản. Khi mô hình bệnh tật ngày càng phức tạp, nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân ngày càng cao, tuyến y tế cơ sở phải có khả năng phát hiện sớm, xử trí ban đầu và chuyển tuyến đúng lúc. Nếu được kết nối trực tiếp với các bệnh viện lớn, trạm y tế xã, phường có thể được hỗ trợ về chuyên môn, đào tạo liên tục, hội chẩn và quy trình xử trí cấp cứu. Bác sĩ ở tuyến cơ sở không còn cảnh đơn độc trước những ca bệnh khó.

Ngược lại, bệnh viện tuyến trên cũng có cơ hội hiểu rõ hơn tình hình sức khỏe của cộng đồng ngay từ nơi bệnh nhân sinh sống. Việc triển khai thành công mô hình trạm y tế xã, phường trực thuộc các bệnh viện lớn - đây không đơn thuần là một mô hình tổ chức mới mà còn bước chuyển từ tư duy “người dân tìm đến bệnh viện” sang tư duy “bệnh viện tìm đến người dân”.

Để làm được điều này, mỗi bệnh viện được phân công gắn kết và đồng hành thường xuyên với trạm y tế phải trở thành mối quan hệ chuyên môn thường xuyên, hai chiều và có trách nhiệm. Sự gắn kết này cần được cụ thể hóa bằng 3 cơ chế chủ yếu: kết nối chuyên môn thường xuyên giữa bệnh viện và trạm y tế; đưa bác sĩ bệnh viện tham gia thực chất vào chăm sóc sức khỏe ban đầu; gắn hỗ trợ chuyên môn với hỗ trợ quản trị và phát triển đội ngũ lãnh đạo trạm y tế.

Đối với những trạm y tế chưa có giám đốc hoặc còn hạn chế về năng lực quản trị có thể thực hiện biệt phái có thời hạn các bác sĩ thuộc diện quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý hoặc đang tham gia công tác quản trị khoa, phòng tại bệnh viện về giữ chức vụ giám đốc trạm y tế. Thời gian biệt phái cần đủ dài, có thể từ 3-5 năm, để cán bộ thực sự trải nghiệm quản trị y tế cơ sở, tổ chức lại hoạt động của trạm và tạo ra những thay đổi bền vững.

Đây đồng thời nên được xem là giai đoạn đào tạo, thử thách và tích lũy kinh nghiệm quản lý quan trọng đối với nguồn cán bộ lãnh đạo của ngành y tế trong tương lai. Khi một bác sĩ tuyến trên được biệt phái về trạm y tế, mối liên kết với bệnh viện cử đi không những không bị cắt đứt mà phải được tăng cường. Bệnh viện trở thành “hậu phương” chuyên môn của trạm, hỗ trợ nhân lực, đào tạo, hội chẩn, chuyển giao kỹ thuật và tiếp nhận người bệnh khi vượt quá khả năng của y tế cơ sở. Từ đó từng bước hình thành mô hình: “bệnh viện đồng hành - trạm y tế vững mạnh - người dân được chăm sóc liên tục".

TPHCM có lợi thế đặc biệt để thí điểm vì có hệ thống bệnh viện lớn, đội ngũ chuyên gia đông, nền tảng công nghệ và mạng lưới y tế cơ sở rộng. Nếu những nguồn lực ấy được kết nối thành một hệ thống thống nhất, trạm y tế xã, phường hoàn toàn có thể trở thành “đầu mối sức khỏe” của từng cộng đồng dân cư.

Trở lại đầu trang