Thịt lợn bệnh vào bếp ăn trường học nguy hiểm thế nào?

Theo chuyên gia, nếu nhà trường và cơ quan quản lý giáo dục địa phương không duy trì kiểm tra định kỳ, đột xuất một cách nghiêm túc, thì thực phẩm không đảm bảo vẫn có thể dễ dàng đi vào bếp ăn.

Hiệu trưởng là 'bức tường cuối cùng' bảo vệ học sinh trước thực phẩm bẩn

Theo Công an Hà Nội, từ đầu năm 2026 đến nay, khoảng 3.600 con lợn nhiễm bệnh, tương đương gần 300 tấn thịt, đã được đưa ra thị trường qua các chợ đầu mối, chợ dân sinh và cung cấp cho một doanh nghiệp thực phẩm vào trường học. Vụ án liên quan nhiều cán bộ thú y bị khởi tố do bỏ qua quy trình kiểm soát, hình thành chuỗi khép kín từ thu gom, giết mổ đến phân phối.

PGS.TS Nguyễn Duy Thịnh – chuyên gia Công nghệ thực phẩm, nguyên giảng viên Viện Công nghệ Sinh học và Thực phẩm (Đại học Bách khoa Hà Nội) cho rằng, tình trạng thực phẩm kém chất lượng, thậm chí có dấu hiệu bệnh tật, vẫn lọt vào bếp ăn tập thể không phải là hiện tượng mới. Nguyên nhân xuất phát từ chuỗi cung ứng kéo dài và phức tạp, đi qua nhiều khâu từ chợ đầu mối, doanh nghiệp cung ứng đến nhà trường. Chỉ cần một mắt xích buông lỏng kiểm soát, toàn bộ hệ thống sẽ mất hiệu lực, đặc biệt trong bối cảnh lợi nhuận bị đặt cao hơn yếu tố an toàn.

Thịt lợn bệnh vào bếp ăn trường học nguy hiểm thế nào?- Ảnh 1.

Bếp ăn trường học phải được đảm bảo an toàn thực phẩm tuyệt đối vì sức khỏe của học sinh.

Theo ông, điểm khó khăn nhất hiện nay không nằm ở hệ thống quy định, bởi các tiêu chuẩn về vệ sinh, kiểm dịch đã tương đối đầy đủ, mà nằm ở khâu tổ chức thực hiện và giám sát tại chỗ. Nếu nhà trường và cơ quan quản lý giáo dục địa phương không duy trì kiểm tra định kỳ, đột xuất một cách nghiêm túc, thì thực phẩm không đảm bảo vẫn có thể dễ dàng đi vào bếp ăn. Thực tế các vụ việc thời gian qua cho thấy, chỉ một khâu lỏng lẻo cũng đủ khiến toàn bộ chuỗi cung ứng đối mặt rủi ro, khi mầm bệnh vẫn tồn tại và động lực lợi nhuận có thể thúc đẩy những hành vi thiếu trách nhiệm.

PGS.TS Nguyễn Duy Thịnh nhấn mạnh, trong chuỗi kiểm soát này, vai trò của hiệu trưởng và lãnh đạo nhà trường là then chốt. Đây được xem là "bức tường cuối cùng" bảo vệ học sinh trước nguy cơ thực phẩm bẩn. Người đứng đầu nhà trường không thể chỉ dừng lại ở việc ký kết hợp đồng với đơn vị cung ứng, mà cần trực tiếp chỉ đạo kiểm tra, giám sát thường xuyên, phối hợp với các cơ quan chức năng để đảm bảo chất lượng bữa ăn. Khi lãnh đạo nhà trường lơ là, nguy cơ xảy ra vi phạm gần như là điều khó tránh khỏi.

Ông cũng chỉ ra rằng, dù nguồn cung thực phẩm ngày càng đa dạng, với sự tham gia của nhiều doanh nghiệp lớn nhỏ, nhưng nếu nhà trường thực hiện nghiêm quy trình kiểm soát và phối hợp chặt chẽ với cơ quan quản lý, nguy cơ vẫn có thể được giảm thiểu đáng kể. Vấn đề cốt lõi nằm ở ý thức trách nhiệm và tính kỷ luật trong thực thi, bởi "quy trình và luật pháp có đầy đủ đến đâu cũng trở nên vô nghĩa nếu con người không thực hiện nghiêm túc".

Ở góc độ quản lý, chuyên gia này cho rằng ngành giáo dục cần thay đổi cách tiếp cận, coi an toàn thực phẩm là một nhiệm vụ trọng tâm, ngang với công tác dạy và học. Điều này đòi hỏi phải xây dựng quy trình kiểm soát chặt chẽ từ khâu tiếp nhận, lưu mẫu, bảo quản đến chế biến thực phẩm, với các tiêu chuẩn rõ ràng và có cơ chế giám sát hiệu quả. Việc kiểm tra không thể chỉ mang tính hình thức hay dựa trên niềm tin vào nhà cung cấp, mà phải được thực hiện thường xuyên, kể cả đột xuất, có sự phối hợp liên ngành giữa giáo dục, y tế và nông nghiệp.

Cùng với đó, cần xác lập rõ trách nhiệm và chế tài xử lý khi để xảy ra vi phạm. Theo PGS.TS Nguyễn Duy Thịnh, nếu không có sự ràng buộc trách nhiệm cụ thể đối với lãnh đạo nhà trường và các bộ phận liên quan, thì những lỗ hổng trong quản lý sẽ tiếp tục tồn tại, kéo theo nguy cơ các vụ việc tương tự tái diễn.

Đối với cơ quan quản lý giáo dục địa phương, vai trò không chỉ dừng lại ở giám sát mà còn phải chủ động dẫn dắt, hỗ trợ nhà trường trong kiểm soát an toàn thực phẩm. Điều này bao gồm việc theo dõi toàn bộ chuỗi cung ứng, phát hiện sớm rủi ro, đưa ra cảnh báo kịp thời và phối hợp xử lý nghiêm các đơn vị vi phạm. Đồng thời, công tác tập huấn, nâng cao nhận thức cho đội ngũ quản lý và nhân viên bếp ăn cũng cần được chú trọng, nhằm đảm bảo mọi khâu đều được thực hiện đúng quy trình.

Nguy hiểm của việc đưa thịt lợn bệnh vào bếp ăn

Dịch tả lợn châu Phi (ASF) là bệnh truyền nhiễm chỉ xảy ra ở lợn, bao gồm lợn nhà và lợn rừng. Virus gây bệnh (ASFV) có khả năng lây lan cực nhanh và gây tỷ lệ tử vong gần như 100% ở lợn bị nhiễm.

PGS.TS Nguyễn Duy Thịnh cho biết virus tả lợn châu Phi tồn tại lâu trong môi trường và dễ lây lan qua hô hấp lẫn tiêu hóa giữa các con lợn. Người tiếp xúc với chuồng trại, xe vận chuyển hoặc thực phẩm từ lợn bệnh có thể phát tán virus.

Người nuôi thường khó phát hiện lợn nhiễm bệnh sớm, dễ khiến dịch lây sang cả đàn. Lợn mắc tả còn dễ nhiễm thêm các bệnh khác như tai xanh, cúm, thương hàn... Dù đã nấu chín, độc tố vẫn còn lại trong thịt. Khi ăn phải, người dùng có thể bị tiêu chảy, nôn, thậm chí sốc nhiễm trùng máu, có thể tử vong.

Mặt khác, thịt lợn ốm, chết có thể bị nhiễm các loại vi khuẩn, ký sinh trùng khác (như giun sán, khuẩn Salmonella, E.coli) gây ngộ độc hoặc các bệnh tiêu hóa nguy hiểm cho người. Nhận biết thịt lợn thật sự sạch phải xem xét toàn bộ chuỗi cung ứng, khâu nào bị bỏ qua thì nguy cơ nhiễm bệnh rất cao.

Ông Thịnh nhấn mạnh việc tiêu thụ thịt lợn bệnh, ngay cả khi đã nấu chín kỹ, vẫn không an toàn và tiềm ẩn nhiều rủi ro nghiêm trọng sức khỏe. Dù nhiệt độ cao có thể tiêu diệt hầu hết vi khuẩn và virus, nhưng nó không thể loại bỏ các độc tố do vi khuẩn tiết ra trong quá trình lợn bị bệnh hoặc do thịt bắt đầu phân hủy. Những độc tố này rất bền với nhiệt và có thể gây ngộ độc cấp tính, nôn mửa hoặc tiêu chảy nặng, thậm chí nguy hiểm tính mạng.

Quá trình chế biến thiếu vệ sinh cũng tạo điều kiện cho virus cúm lợn, dịch tả châu Phi, liên cầu lợn lây lan gián tiếp sang người. Khối thịt ốm chứa mầm bệnh Salmonella, E.coli, Listeria gây rối loạn tiêu hóa, sốt cao, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe trẻ nhỏ, người già và phụ nữ mang thai. Ký sinh trùng gồm giun xoắn, nang sán xâm nhập cơ thể, phá hủy cơ, mắt và thần kinh trung ương nếu đầu bếp đun nấu chưa đủ thời gian.

Thêm vào đó, người chăn nuôi thường tiêm kháng sinh liều cao nhằm "chạy dịch", khiến cơ thể người ăn vô tình hấp thụ dư lượng thuốc. Nhiều tiểu thương lạm dụng hóa chất độc hại nhằm khử mùi hôi thịt thiu, gây nguy cơ mắc bệnh ung thư cho khách hàng.

Ở góc độ giải pháp tổng thể, PGS.TS Nguyễn Duy Thịnh cho rằng cần tiếp cận từ gốc, bắt đầu từ việc kiểm soát dịch bệnh trong chăn nuôi và đảm bảo nguồn thực phẩm đầu vào an toàn. Nhà nước cần tăng cường giám sát các doanh nghiệp cung ứng, đặc biệt là khu vực tư nhân, nơi tiềm ẩn nhiều rủi ro về chất lượng. Song song với đó, trách nhiệm của nhà trường phải được nâng cao, đảm bảo mọi thực phẩm trước khi đưa vào bếp ăn đều được kiểm tra chặt chẽ.

Ông cũng nhấn mạnh vai trò của toàn xã hội trong việc giám sát, từ phụ huynh đến báo chí và cộng đồng. Chỉ khi tất cả các mắt xích cùng tham gia kiểm soát, hệ thống mới có thể vận hành hiệu quả và ngăn chặn thực phẩm bẩn từ gốc.

Theo chuyên gia, an toàn thực phẩm học đường không chỉ là vấn đề kỹ thuật hay quản lý, mà còn liên quan trực tiếp đến sức khỏe và tương lai của trẻ em. Nếu thiếu sự nghiêm túc trong thực thi, dù hệ thống pháp luật có đầy đủ đến đâu, nguy cơ vẫn luôn hiện hữu. Vì vậy, cần một cách tiếp cận đồng bộ, trong đó phòng bệnh từ gốc, kiểm soát chặt chẽ và giám sát liên tục là những yếu tố then chốt, bảo đảm không để lợi nhuận lấn át trách nhiệm và đạo đức.

Lượt xem: 3
Nguồn:Sức khỏe đời sống Sao chép liên kết
Trở lại đầu trang