Một năm triển khai Nghị quyết 70: Định hình tư duy mới về an ninh năng lượng
Trong năm đầu triển khai Nghị quyết số 70-NQ/TW, các chương trình hành động đã được ban hành, chỉ tiêu được lượng hóa, thể chế đang được hoàn thiện, doanh nghiệp năng lượng chủ lực đang tái cấu trúc.
gày 20/8/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đây được xem là một nghị quyết chiến lược, tiếp nối và phát triển các định hướng lớn của Nghị quyết số 55-NQ/TW năm 2020 về chiến lược phát triển năng lượng quốc gia, đồng thời bổ sung nhiều nội dung mới phù hợp với bối cảnh phát triển nhanh, hội nhập sâu, chuyển dịch xanh và cạnh tranh địa kinh tế ngày càng gay gắt.
Một năm sau khi nghị quyết được ban hành, những chuyển động trong ngành năng lượng cho thấy tinh thần “năng lượng phải đi trước một bước” không chỉ dừng ở chủ trương mà đã từng bước được cụ thể hóa bằng chương trình hành động, chính sách, quy hoạch, dự án hạ tầng và sự tham gia rộng hơn của các chủ thể kinh tế.
Nhanh chóng vào thực tiễn
Điểm nhấn quan trọng của Nghị quyết 70-NQ/TW là đặt an ninh năng lượng trong tổng thể an ninh quốc gia, gắn trực tiếp với ổn định kinh tế vĩ mô, quốc phòng-an ninh, an sinh xã hội, bảo vệ môi trường và nâng cao đời sống nhân dân. Cách tiếp cận này phản ánh thực tế rằng trong một nền kinh tế có độ mở lớn, năng lượng không còn đơn thuần là đầu vào sản xuất mà đã trở thành điều kiện nền tảng để duy trì năng lực cạnh tranh quốc gia.
Các chỉ tiêu cụ thể được đặt ra ở quy mô lớn như: Tổng cung năng lượng sơ cấp khoảng 150-170 triệu tấn dầu quy đổi; tổng công suất nguồn điện khoảng 183-236GW hoặc có thể cao hơn tùy nhu cầu hệ thống và diễn biến phát triển kinh tế-xã hội; tổng sản lượng điện khoảng 560-624 tỷ kWh. Tỷ lệ năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp phấn đấu đạt khoảng 25-30%, trong khi tỷ lệ tiết kiệm năng lượng trên tổng tiêu thụ cuối cùng so với kịch bản phát triển bình thường đạt khoảng 8-10%.
Những con số này cho thấy quy mô nhiệm vụ rất lớn, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao, hướng tới thực hiện hai mục tiêu 100 năm của đất nước. Với tốc độ tăng GDP 6 tháng đầu năm đạt 8,18%, riêng quý 2 tăng 8,39%, nhu cầu điện và năng lượng tiếp tục duy trì ở mức cao. Lũy kế 7 tháng, sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống đạt hơn 203,3 tỷ kWh, tăng khoảng 9,3% so với cùng kỳ năm trước. Áp lực bảo đảm cung ứng vì vậy không chỉ mang tính thời điểm mà là bài toán dài hạn.

Công nhân Tổng Công ty Điện lực Miền Trung kiểm tra, sửa chữa hệ thống điện đảm bảo vận hành an toàn và đáp ứng điện cho khách hàng. (Ảnh: TTXVN phát)
Một điểm đáng chú ý sau một năm triển khai là mức độ cụ thể hóa khá nhanh của hệ thống chính trị, các Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp năng lượng. Theo cập nhật của Bộ Công Thương đến ngày 30/6/2026, đã có 21/22 Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ ban hành chương trình hoặc kế hoạch thực hiện; 34/34 tỉnh, thành phố ban hành văn bản triển khai Nghị quyết 328/NQ-CP và Nghị quyết 70-NQ/TW; 5/5 doanh nghiệp trong lĩnh vực năng lượng ban hành chương trình, kế hoạch thực hiện.
Điều này cho thấy Nghị quyết 70-NQ/TW đã nhanh chóng được chuyển hóa thành nhiệm vụ cụ thể trong từng ngành, từng địa phương và từng doanh nghiệp chủ lực. Đây là điều kiện quan trọng, bởi an ninh năng lượng không thể chỉ được bảo đảm bằng một vài dự án nguồn điện hay một số cơ chế giá, mà đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ từ quy hoạch, đầu tư, tài chính, đất đai, môi trường, công nghệ đến quản trị vận hành.
Theo Thứ trưởng Bộ Công Thương Phan Thị Thắng, an ninh năng lượng quốc gia là một trong những trụ cột quan trọng bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển bền vững đất nước, gắn chặt với an ninh quốc gia, quốc phòng và đời sống nhân dân. Nghị quyết 70-NQ/TW một lần nữa xác định rõ yêu cầu năng lượng phải đi trước một bước, đáp ứng đầy đủ nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng-an ninh và nâng cao đời sống nhân dân.
Trong thời gian qua, ngành Công Thương đã và đang tập trung triển khai đồng bộ nhiều giải pháp trong lĩnh vực năng lượng như: Phát triển đa dạng các nguồn năng lượng, kết hợp hài hòa giữa năng lượng truyền thống và năng lượng tái tạo; nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng năng lượng hóa thạch (than, dầu) trong nước; thúc đẩy phát triển các dạng năng lượng mới, đẩy mạnh sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Bộ cũng đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện thể chế, chính sách để phát triển thị trường năng lượng cạnh tranh, minh bạch nhằm thu hút mạnh mẽ các nguồn lực xã hội tham gia đầu tư phát triển năng lượng (xây dựng Luật Điện lực sửa đổi, Luật Dầu khí sửa đổi...).
Bộ Công Thương cũng tập trung cao cho công tác thúc đẩy triển khai các dự án trọng điểm nhằm phát triển đồng bộ, toàn diện khung chính sách và hạ tầng năng lượng.
Hai trụ cột song hành
Thực tế đang đặt ra áp lực rất lớn cho ngành năng lượng. Để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng liên tục trên 10% trong giai đoạn tới, Nghị quyết 70 đặt mục tiêu đến năm 2030, tổng công suất các nguồn điện phải đạt khoảng 183-236 GW, tổng sản lượng điện khoảng 560-624 tỷ kWh. Tuy nhiên, có nguồn điện thôi chưa đủ. Nghị quyết chỉ rõ yêu cầu xây dựng hệ thống điện thông minh, đưa độ tin cậy cung cấp điện của Việt Nam vào Top 3 ASEAN.
Là "anh cả" của ngành điện, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đang chuyển mình mạnh mẽ thành một doanh nghiệp số. Hiện 100% dữ liệu thiết bị trên lưới truyền tải đã được số hóa trên hệ thống PMIS. Trong 10 năm qua, số lượng trạm biến áp 220kV tăng hơn 70%, nhưng nhờ công nghệ điều khiển từ xa và trạm không người trực, số lao động vận hành lại giảm trên 50%. Việc ứng dụng AI, thiết bị bay không người lái (UAV) vào giám sát không chỉ tối ưu hóa chi phí mà còn thay đổi hoàn toàn phương thức quản trị rủi ro, chuyển từ kiểm tra định kỳ sang kiểm tra dựa trên dữ liệu thời gian thực.
Bảo đảm đủ điện cho phát triển kinh tế-xã hội nhưng vẫn giảm phát thải là yêu cầu xuyên suốt của Nghị quyết 70-NQ/TW. Trong định hướng đó, phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng mới, năng lượng sạch được đặt ở vị trí ưu tiên, đi cùng với lộ trình khai thác hợp lý năng lượng hóa thạch, phát triển điện khí, điện hạt nhân và giảm dần tỷ trọng điện than một cách phù hợp.
Bên cạnh việc gia tăng nguồn cung, Nghị quyết 70-NQ/TW xác định tỷ lệ năng lượng tái tạo phải đạt 25-30% và tỷ lệ tiết kiệm năng lượng đạt 8-10% vào năm 2030. Đây là hai "cánh tay" chủ lực để Việt Nam vừa bảo đảm an ninh năng lượng, vừa thực hiện cam kết giảm phát thải.

Nhân viên EVN hướng dẫn khách hàng sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả. (Ảnh: PV/Vietnam+)
Ông Đặng Hải Dũng, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương) phân tích một thực tế khắc nghiệt: Những bất ổn địa chính trị đang làm đứt gãy chuỗi cung ứng, giá nhiên liệu hóa thạch biến động mạnh. Cùng với đó, hàng rào thuế carbon (CBAM) hay Thỏa thuận xanh châu Âu đang tạo áp lực sinh tồn lên các doanh nghiệp xuất khẩu.
"Tiết kiệm năng lượng hiện không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu tất yếu trong quá trình hội nhập," ông Dũng nhấn mạnh. Nếu Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả năm 2010 chủ yếu mang tính khuyến khích, vận động, thì luật sửa đổi được Quốc hội thông qua năm 2025 đã tăng cường các công cụ quản lý, giám sát việc sử dụng năng lượng trong sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng.
Thời gian tới, các cơ quan, doanh nghiệp sẽ phải xây dựng kế hoạch sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả gắn với chỉ tiêu, KPI cụ thể về mức tiêu hao năng lượng. Bộ Công Thương cũng đang thúc đẩy kiểm toán năng lượng, xây dựng mạng lưới chuyên gia tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp nhận diện tiềm năng tiết kiệm năng lượng và tiếp cận giải pháp công nghệ mới. Quỹ sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đang được xây dựng nhằm hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ.
Dầu khí, LNG và ngoại giao năng lượng
Trong bức tranh an ninh năng lượng, dầu khí vẫn giữ vai trò quan trọng, đặc biệt với bảo đảm nguồn cung xăng dầu, khí và nguyên liệu cho công nghiệp. Ông Lê Mạnh Cường, Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp-Năng lượng Quốc gia Việt Nam, nhấn mạnh trong bối cảnh kinh tế, chính trị và địa chính trị thế giới diễn biến nhanh, phức tạp, năng lượng không còn đơn thuần là đầu vào của nền kinh tế mà đã trở thành vấn đề chiến lược, gắn trực tiếp với độc lập, tự chủ và an ninh quốc gia.

Các giàn khoan trên mỏ Bạch Hổ. (Ảnh: Huy Hùng/TTXVN)
Theo ông Lê Mạnh Cường, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, yêu cầu bảo đảm nguồn năng lượng ổn định, an toàn, bền vững trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Petrovietnam xác định bảo đảm an ninh năng lượng không chỉ là nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh mà còn là trách nhiệm chính trị đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Năm 2025 đánh dấu cột mốc quan trọng khi sau 11 năm liên tục suy giảm, sản lượng khai thác dầu thô trong nước tăng trưởng trở lại. Dù vậy, dầu thô khai thác trong nước hiện mới đáp ứng khoảng 35-40% nhu cầu, còn 60-65% phải nhập khẩu để phục vụ chế biến xăng dầu. Trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông có thể làm gián đoạn nguồn cung, Petrovietnam đã chủ động cùng các cơ quan liên quan tìm kiếm nguồn cung thay thế từ châu Mỹ, châu Phi, qua đó bảo đảm Nhà máy Lọc dầu Dung Quất duy trì hoạt động liên tục với công suất trên 100%, góp phần ổn định thị trường năng lượng trong nước.
Câu chuyện này cho thấy an ninh năng lượng hiện đại không thể tách rời ngoại giao năng lượng. Đa dạng hóa nguồn cung LNG, dầu thô, nhiên liệu cho điện hạt nhân hay tiếp cận công nghệ mới không còn là hoạt động thương mại đơn thuần, mà là yêu cầu chiến lược cần có sự hỗ trợ của hợp tác quốc tế, cơ chế Chính phủ với Chính phủ, đào tạo nhân lực và chuyển giao công nghệ.
Một năm nhìn lại, Nghị quyết 70-NQ/TW đã thực sự thổi một luồng sinh khí mới, định hình lại toàn diện tư duy và hành động của ngành năng lượng Việt Nam. Trong năm đầu tiên có ý nghĩa như giai đoạn đặt nền móng, những chương trình hành động đã được ban hành, các chỉ tiêu đã được lượng hóa, thể chế đang được hoàn thiện, hạ tầng điện được thúc đẩy, doanh nghiệp năng lượng chủ lực đang tái cấu trúc phương thức vận hành theo hướng số hóa và bền vững.
Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng cao, chuyển đổi xanh và hội nhập sâu rộng, an ninh năng lượng không còn là câu chuyện của riêng ngành năng lượng. Đó là nền tảng của năng lực cạnh tranh quốc gia, là điều kiện để bảo đảm độc lập, tự chủ và là một trong những chìa khóa để đất nước phát triển nhanh, bền vững trong những thập niên tới./.

Năm 2025 đánh dấu cột mốc quan trọng khi sau 11 năm liên tục suy giảm, sản lượng khai thác dầu thô trong nước tăng trưởng trở lại. (Ảnh: TTXVN phát)



In bài viết






















