Hà Nội đẩy mạnh quản trị môi trường dựa trên dữ liệu và phát triển kinh tế tuần hoàn trong thời kỳ mới
Theo Chương trình bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới, Hà Nội xác định lộ trình chuyển đổi từ “ứng phó thụ động” sang “chủ động phòng ngừa”, lấy quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu và rủi ro làm nền tảng trọng tâm.
Quyết tâm đi đầu về kiểm soát ô nhiễm không khí
Phó Chủ tịch UBND Thành phố Bùi Duy Cường vừa ký ban hành Kế hoạch số 419/KH-UBND ngày 26/10/2026 về triển khai Chương trình số 21-CTr/TU ngày 09/10/2026 của Thành ủy về việc thực hiện Kết luận số 75-KL/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Chương trình hành động số 31-CTr/TW ngày 28/7/2026 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 208/NQ-CP ngày 04/8/2026 của Chính phủ về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới.

Hà Nội triển khai bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới. (Ảnh minh họa)
Mục tiêu đến năm 2030, Thành phố nâng cao năng lực quản trị môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai và ứng phó sự cố, tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ của Thành phố; bảo vệ tốt tính mạng, sức khỏe, tài sản, sinh kế của Nhân dân và bảo đảm an toàn cho các công trình, cơ sở hạ tầng thiết yếu của Thành phố; tập trung xử lý, phục hồi các khu vực ô nhiễm; cải thiện chất lượng môi trường sống; ngăn chặn xu hướng suy giảm đa dạng sinh học; xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành địa phương đi đầu về quản trị môi trường dựa trên dữ liệu, kiểm soát ô nhiễm không khí và thích ứng đô thị với biến đổi khí hậu; kiểm soát chặt chẽ các nguồn thải lớn, thúc đẩy chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế các bon thấp gắn với đổi mới mô hình và nâng cao chất lượng tăng trưởng, bảo đảm an ninh và phát triển bền vững.
Tầm nhìn đến năm 2045, Thủ đô Hà Nội có môi trường sống trong lành, hài hòa với thiên nhiên; hệ thống quản trị môi trường hiện đại, dữ liệu thống nhất, liên thông; đô thị có khả năng chống chịu cao với biến đổi khí hậu; kinh tế xanh, tuần hoàn, các-bon thấp trở thành phương thức phát triển quan trọng; đóng góp tích cực vào mục tiêu phát thải ròng bằng “0” của Việt Nam vào năm 2050.
Chuyển dịch từ “ứng phó thụ động” sang “chủ động phòng ngừa”
Nhằm đạt được các mục tiêu, chỉ tiêu, Thành phố quán triệt, tuyên truyền sâu rộng các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu; đổi mới nội dung, phương thức truyền thông theo hướng thay đổi hành vi, xây dựng văn hóa môi trường, lối sống xanh, tiêu dùng xanh, bền vững; tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính; nâng cao tinh thần trách nhiệm, đạo đức công vụ, văn hóa thực thi; thực hiện nghiêm phương châm “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ tiến độ, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền”.
Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân Thành phố; gắn với Phong trào thi đua “Toàn dân chung tay bảo vệ môi trường, vì một Việt Nam xanh - sạch - đẹp”; gắn tuyên truyền với phong trào thi đua và kết quả có thể kiểm chứng; nghiên cứu áp dụng, nhân rộng các mô hình “Cơ quan, đơn vị xanh - sạch - đẹp”, “Trường học xanh - sạch - đẹp”, “Doanh nghiệp, cơ sở sản xuất xanh - sạch - đẹp”, “Nơi làm việc xanh - sạch - đẹp”, “Tổ dân phố xanh - sạch - đẹp”.
Chủ động phối hợp với các Bộ, Ngành trong quá trình các cơ quan trung ương hoàn thiện thể chế, chính sách pháp luật, chiến lược, quy hoạch, tiêu chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật chuyên ngành và các nhiệm vụ do cấp trung ương chủ trì thực hiện; chuyển mạnh từ “ứng phó thụ động” sang “chủ động phòng ngừa”; từ “quản lý hành chính” sang “quản trị hiện đại” dựa trên dữ liệu, theo rủi ro và theo sức chịu tải, theo hướng quản trị tổng hợp, liên ngành, liên vùng, liên địa phương; kết hợp tiền kiểm có trọng tâm với tăng cường hậu kiểm trên mức độ tuân thủ; tăng cường đối thoại, đồng hành cùng doanh nghiệp.
Tập trung đầu tư hạ tầng thoát nước, chống ngập, thu gom và xử lý nước thải; hạ tầng thu gom, trung chuyển, tái chế, xử lý chất thải; mạng lưới quan trắc, dữ liệu, dự báo, cảnh báo môi trường, khí hậu và thiên tai; đa dạng hóa công cụ huy động nguồn lực cho chuyển đổi xanh; nghiên cứu, triển khai theo thẩm quyền các công cụ tài chính xanh, trái phiếu xanh đô thị, tín dụng xanh và cơ chế huy động vốn theo kết quả đầu ra; chuẩn bị điều kiện để kết nối, khai thác thị trường các-bon và nguồn thu từ tín chỉ các-bon theo quy định, ưu tiên tái đầu tư cho hạ tầng môi trường, giao thông xanh, năng lượng sạch và các dự án giảm phát thải.
Đồng bộ từ quy hoạch không gian, đề án phát triển làng nghề, phân vùng môi trường đến các biện pháp khắc phục ô nhiễm, cải tạo phục hồi môi trường, cảnh quan, hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề việc làm đối với các làng nghề không còn phù hợp hoặc đã mai một, kết hợp giải quyết vấn đề về môi trường với bảo tồn. Toàn diện về môi trường không khí, môi trường đất, nước mặt, nước ngầm, nước thải, vệ sinh môi trường, cảnh quan...
Tăng cường quản lý rừng, khu bảo tồn, hành lang sinh thái, đất ngập nước, sông hồ; bảo tồn loài nguy cấp, quý, hiếm và nguồn gen; hiện đại hóa quản lý, khai thác và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên đất, nước, khoáng sản gắn với chuyển đổi số.
Huy động nguồn lực hiệu quả
Đối với doanh nghiệp Nhà nước thuộc phạm vi Thành phố quản lý, phát huy vai trò tiên phong, dẫn dắt chuyển đổi xanh: 100% doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước áp dụng quản trị doanh nghiệp hiện đại trên nền tảng số; 100% doanh nghiệp này có kế hoạch giảm phát thải khí nhà kính; phấn đấu tối thiểu 70% doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ cổ phần/vốn chi phối có kế hoạch chuyển đổi năng lượng xanh.
Tái cơ cấu công nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng công nghệ cao, công nghệ số, công nghệ xanh; phát triển công nghiệp vật liệu mới, công nghiệp tái chế, thiết bị tiết kiệm năng lượng; thúc đẩy sử dụng vật liệu xanh, vật liệu tái chế, vật liệu thân thiện môi trường và giải pháp xây dựng xanh.
Đối với 2-3 khu công nghiệp thí điểm chuyển đổi, xây dựng hệ chỉ số đo lường hiệu suất tối thiểu như: giá trị tạo ra/ha; phát thải trên đơn vị sản phẩm hoặc giá trị sản xuất; năng suất lao động công nghiệp; tỷ lệ doanh nghiệp áp dụng chuyển đổi số; tỷ lệ nội địa hóa và doanh nghiệp vệ tinh trong chuỗi; chi R&D/doanh thu; hiệu suất năng lượng, tỷ lệ tái sử dụng nước và tái chế chất thải.
Tổ chức phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn thành cấu phần quan trọng của mô hình tăng trưởng Thủ đô; khuyến khích doanh nghiệp áp dụng mô hình 3R (giảm thiểu - tái sử dụng - tái chế), hệ thống quản lý môi trường, quản lý năng lượng và các tiêu chuẩn phù hợp; tổ chức các mô hình kinh tế xanh - kinh tế tuần hoàn gắn với 9 cực, 9 trung tâm và 9 trục động lực phát triển theo Quy hoạch tổng thể Thủ đô; ưu tiên mô hình có khả năng giảm phát sinh chất thải, giảm phát thải khí nhà kính, tăng tỷ lệ tái sử dụng - tái chế, tạo việc làm xanh và hình thành thị trường sản phẩm, dịch vụ xanh.
Gắn nông nghiệp tuần hoàn với công nghệ số, công nghệ cao, chuỗi giá trị và dịch vụ hóa nông nghiệp; khuyến khích mô hình nông nghiệp đô thị, trang trại trải nghiệm, nông nghiệp giáo dục và các sản phẩm du lịch nông nghiệp phù hợp với sức chịu tải môi trường.
Phát triển các mô hình du lịch cộng đồng - du lịch nông nghiệp - du lịch sinh thái xanh; hình thành chuỗi liên kết sản xuất nông nghiệp - làng nghề - dịch vụ du lịch; áp dụng nguyên tắc tuần hoàn “Không rác thải - Không phát thải - Tái sử dụng”; xây dựng các tuyến du lịch xanh kết nối di tích, làng nghề, vùng nông nghiệp ven đô và các điểm sinh thái.
Phát triển, huy động các công cụ tài chính xanh, trái phiếu xanh và nguồn vốn ưu đãi để hỗ trợ chuyển đổi công nghệ sạch, hạ tầng môi trường, năng lượng tái tạo, giao thông xanh, công trình xanh và các dự án kinh tế tuần hoàn; chuẩn bị hạ tầng dữ liệu, kiểm kê, tăng cường năng lực đo đạc, báo cáo, thẩm định, xây dựng danh mục cơ sở, dự án tiềm năng tạo tín chỉ các-bon, quản lý chặt chẽ hoạt động trao đổi tín chỉ các-bon là trách nhiệm của tất cả các ngành, các cấp.
Chuẩn hóa dữ liệu chuyên ngành theo hướng có mã định danh, cấu trúc dữ liệu, siêu dữ liệu, giao diện kết nối, cơ chế cập nhật, chia sẻ, phân quyền và bảo đảm an toàn thông tin; tăng cường liên thông dữ liệu môi trường với dữ liệu quy hoạch, hạ tầng kỹ thuật, thoát nước, giao thông, năng lượng và dữ liệu đô thị phục vụ quản trị theo vòng đời.



In bài viết






















