Kinh tế sẵn sàng bứt phá với triển vọng tăng trưởng 2 con số từ năm 2026
Tại Nghị quyết 01/NQ-CP về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026, Chính phủ yêu cầu các cấp, ngành, địa phương thực hiện mục tiêu tăng trưởng năm 2026 phấn đấu đạt từ 10% trở lên.

Theo đó, các bộ, ngành, địa phương đang tập trung xây dựng kịch bản tăng trưởng hằng quý theo 3 khu vực kinh tế và 21 ngành cấp 1, nhằm phấn đấu tăng trưởng 2 con số.
Còn nhiều dư địa tăng trưởng
Làm rõ triển vọng tăng trưởng 2 con số bắt đầu từ năm 2026, Phó Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Anh Tuấn khẳng định, Việt Nam có đủ điều kiện, tiềm năng và dư địa để đạt được mục tiêu đề ra. Dư địa nằm ở việc kiến tạo, khai thác hiệu quả các động lực tăng trưởng mới cùng với thúc đẩy mạnh mẽ và làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống như đầu tư, xuất khẩu, tiêu dùng. Tuy đạt được kết quả tăng trưởng ấn tượng 8,02% trong năm 2025 nhưng về cơ bản, hiệu quả chung của nền kinh tế còn thấp, nếu tháo gỡ các điểm nghẽn, khơi thông mọi nguồn lực, khai thác tốt nhất các tiềm năng, lợi thế, kinh tế Việt Nam sẽ tạo được tăng trưởng đột phá.
Trên nền tảng tích cực của năm 2025 và quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị cùng với dự báo kinh tế vĩ mô năm 2026 tiếp tục được duy trì ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm, niềm tin của người dân và doanh nghiệp được củng cố, Việt Nam có đủ điều kiện để bứt phá tăng trưởng trong năm 2026.
Trong Báo cáo đánh giá về kinh tế Việt Nam năm 2025 và dự báo năm 2026, Tiến sĩ Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) cùng Nhóm tác giả Viện Nghiên cứu kinh tế BIDV nhận định: Trên nền tảng tích cực của năm 2025 và quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị cùng với dự báo kinh tế vĩ mô năm 2026 tiếp tục được duy trì ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm, niềm tin của người dân và doanh nghiệp được củng cố, Việt Nam có đủ điều kiện để bứt phá tăng trưởng trong năm 2026.
Theo kịch bản cơ sở của Nhóm nghiên cứu, tăng trưởng GDP năm 2026 có thể đạt 9-9,5%; trong đó, tăng trưởng của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 4-4,5%, đóng góp 4,5-5% vào tăng trưởng chung; công nghiệp và xây dựng tăng trưởng 10- 11%, đóng góp 45-47% vào tăng trưởng chung; dịch vụ tăng trưởng 10-11%, đóng góp 47-49% vào tăng trưởng chung.
Ở kịch bản tích cực, tăng trưởng GDP dự báo có thể đạt 10% với mức đóng góp cao nhất vẫn thuộc về khu vực dịch vụ nhưng có thể lên đến 49-50% GDP toàn nền kinh tế.
Đây là mức tăng trưởng tiệm cận quỹ đạo bứt phá của các nền kinh tế Đông Á trong giai đoạn vượt bẫy thu nhập trung bình. Nhóm tác giả cũng chỉ rõ những mặt hạn chế cần giải pháp khắc phục, gồm chất lượng tăng trưởng cải thiện nhưng chưa bền vững; hoạt động đầu tư chưa thật sự bứt phá khi tỷ lệ giải ngân của một số bộ, ngành, địa phương vẫn thấp hơn mức bình quân chung của cả nước…
Duy trì ổn định kinh tế vĩ mô
Theo Tiến sĩ Cấn Văn Lực, năm 2026 cần phối hợp hài hòa trong điều hành chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ với các chính sách vĩ mô khác. Chính sách tài khóa là chủ lực, chính sách tiền tệ có vai trò bổ trợ nhằm thúc đẩy tăng trưởng và kiểm soát lạm phát. Bên cạnh đó, cần điều hành linh hoạt lãi suất và tỷ giá, bình ổn thị trường vàng, lành mạnh hóa thị trường bất động sản; bảo đảm nguồn cung hàng hóa thiết yếu; sớm xây dựng Đề án cải cách thị trường tài chính, phát triển thị trường tài chính cân bằng, đồng bộ gắn với phân bổ tín dụng hiệu quả, tăng quy mô tín dụng xanh cho nền kinh tế…
Tiến sĩ Cấn Văn Lực cũng cho rằng, mục tiêu tăng trưởng 2 con số cùng với giữ ổn định kinh tế vĩ mô là thách thức lớn trong bối cảnh hiện nay nhưng cũng là yếu tố quyết định để thực hiện các mục tiêu chiến lược của đất nước trong trung và dài hạn. Để thúc đẩy các động lực tăng trưởng truyền thống, cần giữ vững thành quả xuất khẩu và kích cầu đầu tư, tiêu dùng thông qua các giải pháp cải thiện thực chất môi trường đầu tư kinh doanh. Cần sớm xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số thay vì tăng trưởng dựa nhiều vào vốn và lao động.
Đồng thời đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế, chú trọng nâng cao chất lượng tăng trưởng bằng cách đẩy nhanh tiến độ xử lý các dự án lớn còn vướng mắc, tồn đọng để giải phóng nguồn lực, tăng hiệu quả đầu tư; chú trọng cơ cấu lại đầu tư công theo hướng bền vững bằng cách tăng tỷ trọng đầu tư cho khoa học công nghệ, y tế, giáo dục, hạ tầng số, thích ứng biến đổi khí hậu…
Tiến sĩ Võ Trí Thành, Viện trưởng Nghiên cứu chiến lược thương hiệu và cạnh tranh cho rằng, có ba bài học kinh nghiệm để Việt Nam bứt phá trong thập kỷ tới. Đó là giữ ổn định kinh tế vĩ mô; chủ động theo đuổi chính sách công nghiệp hiện đại trong cuộc đua công nghệ toàn cầu đang diễn ra quyết liệt và xây dựng cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh, có năng lực cạnh tranh toàn cầu.
Đặc biệt trong bối cảnh tình hình địa chính trị quốc tế nhiều biến động khó lường, môi trường chính trị ổn định là điều kiện tiên quyết giúp Việt Nam thu hút vốn đầu tư nước ngoài, để doanh nghiệp vững tin mở rộng sản xuất, kinh doanh; ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát tốt lạm phát, giữ nợ công ở ngưỡng an toàn, duy trì hệ thống tài chính lành mạnh chính là nền tảng cho tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững.





In bài viết






















