Sáu nhóm giải pháp đột phá phát triển AI
Ngày 28/8, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng đã chính thức ký Quyết định số 1671/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo (AI) đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045...
Quyết định mới này có hiệu lực thi hành từ ngày ký và chính thức thay thế Quyết định số 127/QĐ-TTg ngày 26/01/2021 trước đó.
Chuyển đổi toàn diện quốc gia bằng AI
Chiến lược quốc gia về AI (Chiến lược) mới xác định rõ bước chuyển dịch từ nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI đơn thuần sang chuyển đổi toàn diện quốc gia bằng AI. Trong đó, AI được xác định là năng lực cốt lõi ngay từ khâu xác định bài toán, thiết kế, tổ chức cho đến vận hành.

Ảnh minh họa.
Chiến lược được thực hiện với 6 quan điểm chỉ đạo xuyên suốt gồm lấy nhân lực, hạ tầng và dữ liệu làm nền tảng; lấy thể chế và quản trị AI làm đột phá; phát triển nhân lực chất lượng cao và phổ cập kỹ năng AI cho toàn dân.
Ngoài ra, phát triển đồng bộ hạ tầng, dữ liệu, mô hình và nền tảng AI nhằm bảo đảm an toàn, an ninh và đặc biệt là chủ quyền AI quốc gia. Chiến lược xác định bảo đảm lãnh đạo thống nhất, quản lý tập trung, lấy con người làm trung tâm và gắn trách nhiệm của người đứng đầu với kết quả thực hiện.
Doanh nghiệp AI Việt Nam được xác định là lực lượng chủ lực. Tập trung phát triển các sản phẩm, dịch vụ "Make in Viet Nam" và các doanh nghiệp thuần AI (AI-native). Ngoài ra, hợp tác quốc tế sẽ song hành với việc nâng cao năng lực nội sinh, tự chủ chiến lược và đa dạng hóa đối tác công nghệ, chuỗi cung ứng.
Mục tiêu Top 3 Đông Nam Á về nghiên cứu, phát triển AI
Theo Chiến lược đề ra, đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu trở thành một trong những trung tâm có năng lực nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và đồng kiến tạo giá trị về AI hàng đầu trong khu vực ASEAN và châu Á, thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển AI. Kinh tế AI đóng góp khoảng 6% GDP. Năng suất lao động tại các ngành có ứng dụng AI tăng từ 10% đến 15%. Đồng thời, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm, dịch vụ và giải pháp AI đạt khoảng 5 tỷ USD.
Cùng với đó, 60% doanh nghiệp ứng dụng AI cải thiện rõ rệt hiệu quả hoạt động. 100% cán bộ, công chức, viên chức sử dụng AI trong thực thi công vụ hằng tuần. 60% quyết định điều hành của các cơ quan nhà nước được hỗ trợ đắc lực bởi dữ liệu và AI. Mức độ hài lòng của người dân đối với các dịch vụ công có tích hợp AI tăng tối thiểu 30%.
Theo Chiến lược, tới năm 2030, 100% bộ, ngành, địa phương hoàn thành xây dựng kế hoạch triển khai AI. 100% dịch vụ công trực tuyến và hồ sơ thủ tục hành chính được hỗ trợ xử lý bởi AI. Việt Nam sẽ hình thành nền tảng điều phối năng lực tính toán AI quốc gia và nền tảng đánh giá mô hình AI tiếng Việt, hình thành tối thiểu 5 nền tảng AI dùng chung, 10 thương hiệu AI Việt Nam và phát triển thành công 8 mô hình AI tiếng Việt theo 4 quy mô.
Về nguồn nhân lực, Việt Nam đặt mục tiêu đào tạo 10.000 nhân lực AI trình độ cao và 50.000 nhân lực có trình độ đại học trở lên sở hữu năng lực ứng dụng AI. Đồng thời, đào tạo và đào tạo lại cho 500.000 lao động vận hành AI, phổ cập kỹ năng AI cơ bản cho 10 triệu lao động đã qua đào tạo khác.
Phấn đấu tới năm 2030, tổng mức đầu tư cho AI của toàn xã hội đạt từ 1% đến 1,5% GDP mỗi năm. Năng lực tính toán đạt khoảng 560 EFLOPS BF16 (hoặc 1.100 EFLOPS FP8) với tổng công suất điện năng khoảng 500 MW. Toàn bộ dữ liệu trọng yếu quốc gia được số hóa, chuẩn hóa, làm sạch và luôn ở trạng thái sẵn sàng cho các hệ thống AI khai thác.
Nhìn xa hơn, đến năm 2045, Việt Nam đặt mục tiêu thuộc nhóm 10 quốc gia dẫn đầu châu Á về nghiên cứu, phát triển, làm chủ và chuyển đổi AI quốc gia. Khi đó, AI sẽ trở thành nền tảng vận hành chủ đạo xuyên suốt của Nhà nước, nền kinh tế và toàn xã hội.
Sáu nhóm giải pháp đột phá
Để hiện thực hóa khát vọng này, Chiến lược quốc gia vạch ra 9 trụ cột phát triển gồm nhân lực AI và kỹ năng AI toàn dân; dữ liệu và mô hình AI; hạ tầng AI; nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ AI; AI trong quản trị quốc gia; AI cho các ngành, lĩnh vực trọng điểm (khoa học, công nghiệp, nông nghiệp, tài chính, y tế, giáo dục, văn hóa, môi trường, quốc phòng, an ninh). Chiến lược cũng xác định tập trung phát triển AI cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, hợp tác xã; xây dựng hệ sinh thái AI và chú trọng quản trị AI an toàn, đáng tin cậy.
Đi kèm với đó là 6 nhóm giải pháp đột phá bao gồm: hoàn thiện thể chế chính sách pháp luật; điều phối quốc gia và trách nhiệm thực thi; huy động nguồn lực tài chính; hợp tác quốc tế và tiêu chuẩn hóa; tuyên truyền nâng cao văn hóa sử dụng AI có trách nhiệm; và đo lường, giám sát chiến lược.
Đặc biệt, công tác thực thi Chiến lược sẽ được áp dụng nghiêm ngặt theo nguyên tắc "6 rõ": rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền. Kết quả và mức độ chuyển đổi AI của từng cơ quan sẽ là căn cứ để điều chỉnh chính sách và phân bổ nguồn lực quốc gia.
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao vai trò chủ trì điều phối liên ngành, có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, đo lường và đánh giá kết quả thực hiện hằng năm để báo cáo trực tiếp lên Thủ tướng Chính phủ. Các bộ, ngành, địa phương cùng cộng đồng doanh nghiệp công nghệ số, các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu trên cả nước sẽ đồng loạt xây dựng kế hoạch hành động riêng, bố trí nguồn lực phù hợp nhằm đưa AI thực sự đi sâu vào đời sống và guồng quay phát triển kinh tế.



In bài viết






















