1

Thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu

Thương mại hoá công nghệ là một khâu quan trọng trong việc đưa kết quả hoạt động khoa học-công nghệ (KHCN) vào sản xuất, kinh doanh. Mặc dù vậy, bên cạnh các sản phẩm công nghệ đã thương mại hóa thì vẫn còn nhiều sản phẩm chưa tiếp cận được thị trường, mới dừng lại ở nghiên cứu.

Sản phẩm“thịt lợn trà xanh tinh hoa Thái Nguyên” đã được thương mại hóa.

Sản phẩm“thịt lợn trà xanh tinh hoa Thái Nguyên” đã được thương mại hóa.

Đây là thực trạng chung của tất cả các địa phương, trong đó có Thái Nguyên. Đó cũng là “điểm nghẽn” được Ban Chỉ đạo Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số các cấp nhận định sau gần 2 năm thực hiện Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị.

Với lợi thế về chè và các sản phẩm từ chè, các nhà khoa học đã nghiên cứu tạo ra hướng chăn nuôi mới, đưa lá, bột chè xanh vào khẩu phần ăn của lợn, hình thành sản phẩm đặc trưng “thịt lợn trà xanh tinh hoa Thái Nguyên”. Sản phẩm này đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu.

Trang trại nuôi lợn của Hợp tác xã (HTX) Toàn Liễu, xã Tân Cương là một trong hai mô hình chăn nuôi được nhóm nghiên cứu của Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên lựa chọn thí điểm triển khai đề tài và nghiên cứu xây dựng quy trình nuôi lợn lấy thịt từ thức ăn tự nhiên có bổ sung nguyên liệu chè xanh Thái Nguyên. Sau một thời gian triển khai mô hình đã thu được nhiều kết quả đáng kể.

Bà Nguyễn Thị Liễu, Chủ tịch HĐQT, Giám đốc HTX Toàn Liễu, thông tin: Dù tốc độ tăng trưởng của lợn nuôi bằng bột trà xanh tương đương với cách nuôi truyền thống, nhưng hiệu quả kinh tế lại cao hơn. Sự kết hợp giữa mô hình này và đệm lót sinh học giúp giảm đáng kể thuốc kháng sinh, giúp lợn khỏe mạnh, ít bệnh tật. Chúng tôi sẽ tiếp tục duy trì mô hình, đồng thời đào tạo hệ thống bán hàng để quảng bá sản phẩm tương xứng với thương hiệu.

Sản phẩm Thịt lợn trà xanh

Sản phẩm Thịt lợn trà xanh

Để cụ thể hóa việc thúc đẩy thương mại hóa các sản phẩm công nghệ, hướng đến thực hiện hiệu quả mối liên kết “3 nhà”, thời gian qua, tỉnh Thái Nguyên đã phối hợp với nhiều viện nghiên cứu và trường đại học để triển khai các đề tài nghiên cứu, các dự án ứng dụng KHCN vào sản xuất và đời sống. Riêng năm 2026, tỉnh tiếp tục tuyển chọn và phê duyệt triển khai khoảng 50 nhiệm vụ KHCN.

Tuy nhiên trên thực tế, việc thương mại hóa công nghệ của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo vẫn còn là những điểm “nghẽn”, nhiều đề tài vẫn còn dừng lại ở việc nghiên cứu, số nhiệm vụ nghiên cứu khoa học xuất phát từ nhu cầu thị trường và doanh nghiệp còn ít.

Về vấn đề này, PGS.TS Phùng Trung Nghĩa, Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông, Đại học Thái Nguyên cho biết: Việc thương mại hóa sản phẩm công nghệ vẫn gặp nhiều rào cản, chủ yếu do khoảng cách giữa Nhà trường và doanh nghiệp trong khâu marketing và tiếp cận khách hàng. Để khắc phục, chúng tôi đang đẩy mạnh đưa doanh nghiệp vào trường học nhằm rút ngắn khoảng cách này và thương mại hóa hiệu quả các kết quả nghiên cứu.

Bà Nguyễn Thị Thủy, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ khẳng định: Nghị quyết của HĐND tỉnh về chính sách hỗ trợ phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đến năm 2030 là căn cứ để Sở triển khai các giải pháp cụ thể. Chúng tôi sẽ đổi mới hoạt động của Quỹ phát triển khoa học công nghệ; đa dạng hóa các hình thức đặt hàng, tài trợ nghiên cứu theo nhu cầu doanh nghiệp, tập trung nguồn lực cho các sản phẩm chủ lực và công nghệ chiến lược của tỉnh.

Tỉnh Thái Nguyên đặt ra mục tiêu đến năm 2030, có 75% kết quả nghiên cứu được ứng dụng sau 12 tháng nghiệm thu; trên 60% số sản phẩm đổi mới sáng tạo được thương mại hóa.

Để thực hiện được các mục tiêu này, ngay từ lúc này, tỉnh cần tạo ra một môi trường hỗ trợ và khuyến khích đổi mới, đồng thời đầu tư vào hạ tầng và nguồn lực cần thiết để tạo ra những sản phẩm và dịch vụ có giá trị, từ đó tận dụng, khai thác được các tiềm năng của khoa học và công nghệ.

Nguồn:Báo Thái Nguyên Sao chép liên kết
Trở lại đầu trang