Ngành lương thực - thực phẩm: Tham gia sâu vào chuỗi giá trị
Chi phí nguyên liệu, năng lượng và logistics tăng mạnh do tác động của xung đột ở Trung Đông, nhưng ngành lương thực - thực phẩm của Việt Nam vẫn duy trì mức tăng trưởng trên 13% trong quý 1-2026. Kết quả này phản ánh khả năng thích ứng linh hoạt của doanh nghiệp.
Áp lực chi phí tạo sức bật nội tại
Theo bà Lý Kim Chi, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Thực phẩm TPHCM, trong những tháng đầu năm 2026, nhiều nhóm nguyên liệu đầu vào tăng trên 50%, nhưng chỉ số sản xuất toàn ngành lương thực, thực phẩm vẫn tăng hơn 13,2%. Kết quả này phản ánh khả năng thích ứng của doanh nghiệp (DN) khi chủ động dự trữ nguyên liệu từ 3-6 tháng, kiểm soát chi phí và chấp nhận giữ giá để duy trì thị phần.

Công nhân Công ty CP Xuất nhập khẩu Nông sản Thực phẩm CODECO sơ chế nông sản phục vụ xuất khẩu tại Khu công nghiệp Vĩnh Lộc, xã Vĩnh Lộc, TPHCM. ẢNH: HOÀNG HÙNG
Ở góc độ DN, ông Phan Minh Thông, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Phúc Sinh (TPHCM), cho rằng khả năng đứng vững trước áp lực chi phí đến từ việc chuyển sang tham gia sâu vào chuỗi giá trị. DN tái cấu trúc toàn bộ sản xuất, đẩy mạnh chế biến sâu, qua đó mở rộng xuất khẩu tới hơn 120 quốc gia với giá trị gia tăng cao hơn. Đồng quan điểm, ông Nguyễn Đình Tùng, Tổng Giám đốc Công ty CP Xuất nhập khẩu Vina T&T (TPHCM), cho biết để vào các thị trường cao cấp như Mỹ, Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, DN buộc phải tổ chức lại sản xuất từ vùng trồng, kiểm soát chặt truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn chất lượng. Khi làm chủ chuỗi giá trị, nông sản Việt có thể vào thẳng hệ thống phân phối hiện đại, nâng giá trị và tăng khả năng chống chịu trước biến động thị trường.
Thực tế cho thấy, cùng sản phẩm gạo, nếu xuất khẩu thô chỉ khoảng 500 USD/tấn, nhưng khi xây dựng thương hiệu và chế biến sâu, giá trị tăng lên gấp nhiều lần. Tương tự, nghệ thô chỉ ở mức vài USD/kg, nhưng khi chiết xuất thành curcumin, giá trị có thể đạt tới hàng trăm USD/kg... Theo bà Hồ Thị Quyên, Phó Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TPHCM (ITPC), những ví dụ trên cho thấy dư địa gia tăng giá trị của nông sản Việt Nam vẫn còn rất lớn, nếu DN chuyển từ xuất khẩu thô sang đầu tư vào chế biến sâu và xây dựng thương hiệu. Với quy mô thị trường thực phẩm toàn cầu rất lớn (chỉ tính riêng thị trường thực phẩm lành mạnh dự kiến vượt 860 tỷ USD trong năm 2026; thị trường Halal ước đạt khoảng 5.000 tỷ USD), là cơ hội để DN Việt khai thác, mở rộng thị phần, nâng giá trị gia tăng và giảm thiểu rủi ro trước những biến động của thị trường toàn cầu.
Tuân thủ chuỗi giá trị theo chuẩn quốc tế
Nhu cầu nhập khẩu nông sản, thực phẩm trên thị trường toàn cầu vẫn rất lớn, nhưng khả năng đáp ứng của DN trong nước còn hạn chế. Theo Bộ Công thương, tại châu Âu, tỷ trọng hàng Việt mới chỉ chiếm khoảng 2% trong tổng kim ngạch nhập khẩu của khối này. Tương tự, với thị trường Halal - phân khúc có quy mô hàng ngàn tỷ USD, nhưng hiện chỉ khoảng 0,2% DN Việt đáp ứng được các tiêu chuẩn chứng nhận để tham gia xuất khẩu. Khoảng cách này không chỉ phản ánh hạn chế về năng lực cung ứng, mà còn cho thấy yêu cầu ngày càng cao của thị trường.
Theo ông Hoàng Văn Việt, Chủ tịch Cộng đồng Doanh nhân Trí thức Toàn cầu, để khai thác hiệu quả các thị trường tiềm năng, DN không thể dừng ở chất lượng sản phẩm, mà phải tuân thủ toàn bộ chuỗi giá trị theo chuẩn quốc tế. Theo đó, xanh hóa sản xuất, minh bạch chuỗi cung ứng và đáp ứng các tiêu chuẩn toàn cầu đang trở thành điều kiện bắt buộc.
Ở góc độ thị trường, bà Rose Chitanuwat, Giám đốc Chuỗi dự án khu vực ASEAN - Tập đoàn Informa Markets, cho rằng DN cần đa dạng hóa sản phẩm theo từng thị trường để tối ưu giá trị. Kinh nghiệm từ Thái Lan cho thấy, cùng một sản phẩm gà chế biến, có thể phân tách theo nhu cầu từng khu vực như: đùi gà vào Nhật Bản, ức gà vào châu Âu, cánh gà vào Trung Quốc... thay vì bán đồng nhất, qua đó gia tăng giá trị từng phần.
Bên cạnh nỗ lực của DN, cần sớm hình thành hệ sinh thái hỗ trợ đồng bộ từ phía cơ quan chức năng và địa phương, đặc biệt là các cơ chế tài chính phù hợp với DN vừa và nhỏ, đủ nguồn lực để đầu tư công nghệ chế biến sâu, xây dựng trung tâm nghiên cứu sản phẩm mới và đẩy mạnh xúc tiến thương mại. Cùng với đó, việc xây dựng và vận hành hiệu quả liên kết “3 nhà” (nhà nước - nhà khoa học - DN) sẽ góp phần rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến thương mại hóa.



In bài viết






















