30 năm Việt Nam gia nhập ASEAN: Điểm đến hấp dẫn của dòng vốn FDI

30 năm Việt Nam gia nhập ASEAN: Điểm đến hấp dẫn của dòng vốn FDI

Kể từ khi gia nhập ASEAN ngày 28/7/1995, Việt Nam đã hòa vào dòng chảy vốn FDI, ghi dấu ấn trong việc hình thành mạng lưới sản xuất quốc tế và chuỗi giá trị trong khu vực, thúc đẩy các quốc gia thành viên đầu tư nội khối và tăng cường liên kết toàn cầu.

Nguồn:Mekongasean

ASEAN, điểm đến FDI hàng đầu trong các khu vực đang phát triển

Theo Báo cáo Đầu tư ASEAN 2024 do Ban Thư ký ASEAN công bố vào tháng 2/2025, dòng vốn FDI vào ASEAN đã đạt mức kỷ lục 230 tỷ USD trong năm 2023. Mặc dù mức tăng chỉ dưới 1% so với năm trước, con số này vẫn đáng chú ý trong bối cảnh FDI toàn cầu giảm 10%.

Đây là năm thứ ba liên tiếp ASEAN ghi nhận tăng trưởng FDI, qua đó củng cố vị thế là điểm đến FDI hàng đầu trong số các khu vực đang phát triển, chiếm 17% tổng dòng vốn FDI toàn cầu, tăng so với 16,5% vào năm 2022.

FDI đã đóng một vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng của các ngành xuất khẩu và các lĩnh vực chiến lược tại ASEAN. Trong giai đoạn 2016-2023, ASEAN đã chứng kiến sự gia tăng FDI trong các lĩnh vực then chốt bao gồm điện tử, chất bán dẫn, ô tô và hệ sinh thái xe điện (EV) mới nổi, giúp khu vực củng cố vị thế là một trung tâm sản xuất toàn cầu. Việc mở rộng liên kết chuỗi cung ứng trong các ngành này, kết hợp với đầu tư vào kết nối vật lý và kỹ thuật số, đã nâng cao hơn nữa sự đóng góp của FDI vào hội nhập khu vực.

Năm 2023, 5 ngành công nghiệp hàng đầu chiếm 86% tổng dòng vốn FDI vào khu vực, bao gồm: tài chính, sản xuất chế tạo, bán buôn và bán lẻ, bất động sản, và vận tải và kho bãi. Trong đó, đầu tư vào các hoạt động tài chính, bao gồm ngân hàng, bảo hiểm, quỹ đầu tư và các chức năng tài chính của các doanh nghiệp đa quốc gia (MNE), tăng mạnh 53%, đạt 92 tỷ USD.

Đầu tư mới trong lĩnh vực bán dẫn giai đoạn 2016-2023 đạt trung bình 5,6 tỷ USD/năm, tăng hơn gấp đôi so với mức trung bình 2,2 tỷ USD trong giai đoạn 2005–2015. Cũng trong khoảng thời gian này, đầu tư vào linh kiện điện tử tăng từ 2,5 tỷ USD lên 4,6 tỷ USD. Hai lĩnh vực này cộng lại chiếm gần 10% tổng vốn đầu tư mới. “Tất cả 25 doanh nghiệp bán dẫn hàng đầu thế giới đều đang hoạt động tại ASEAN, nhiều doanh nghiệp trong số đó hiện diện tại nhiều nước thành viên. Các nhà cung ứng và gia công hợp đồng cũng tiếp tục mở rộng đầu tư, củng cố hệ sinh thái bán dẫn gắn kết trong khu vực,” Ban Thư ký ASEAN nhìn nhận.

Lĩnh vực ô tô của khu vực ASEAN cũng ghi nhận sự tăng trưởng đáng kể nhờ FDI. Vốn đầu tư mới trong sản xuất ô tô đạt trung bình 3 tỷ USD/năm trong giai đoạn 2016-2023, tăng từ 1,9 tỷ USD trong giai đoạn 2005–2015. Các doanh nghiệp Trung Quốc và Hàn Quốc đang đóng vai trò ngày càng lớn trong quá trình mở rộng này.

Đầu tư quốc tế vào kinh tế số, bao gồm thương mại điện tử, công nghệ tài chính (fintech) và hạ tầng số, cũng tiếp tục gia tăng. Đầu tư mới trong các lĩnh vực truyền thông, xử lý dữ liệu và dịch vụ lưu trữ đã tăng hơn gấp 5 lần, đạt 4,4 tỷ USD trong giai đoạn 2016–2023, với tốc độ tăng mạnh đặc biệt kể từ năm 2020. Đầu tư vào hạ tầng số như mạng 5G và trung tâm dữ liệu đang tạo nền tảng cho sự phát triển của kinh tế số, công nghiệp 4.0 và tăng cường kết nối khu vực.

Việt Nam chuyển mình, đón sóng đầu tư khu vực

Tại khu vực ASEAN, trong bối cảnh kinh tế, xã hội, địa chính trị thế giới nhiều biến động, cùng các yếu tố nội tại, tình hình thu hút vốn FDI có sự khác biệt giữa các quốc gia. Thậm chí, ở từng quốc gia cũng đang cho thấy sự thay đổi về đối tác đầu tư lớn, các lĩnh vực đầu tư trọng yếu. Trong đó, sự tăng trưởng FDI trong khu vực ASEAN chủ yếu tập trung tại các nước Singapore, Indonesia, Thái Lan và Việt Nam.

Quốc gia được nhắc đến nhiều nhất trong cuộc đua thu hút FDI khu vực ASEAN là Singapore, thu hút lượng lớn dòng vốn FDI đến từ nhiều quốc gia trên thế giới. Trong khu vực ASEAN, lượng vốn FDI vào quốc gia này bằng, thậm chí nhiều hơn tổng vốn FDI của các nước trong khu vực cộng lại.

Điều tạo nên sức hấp dẫn ở Singapore đối với các nhà đầu tư nước ngoài là hệ thống pháp luật hoàn thiện, môi trường kinh doanh ổn định, có nhiều chính sách ưu đãi thuế khác biệt, hệ thống luật hỗ trợ doanh nghiệp hiệu quả, các thủ tục cấp giấy phép đơn giản.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Singapore đạt mức kỷ lục 192 tỷ USD vào năm 2024, tăng 5,6% so với năm trước, đánh dấu dòng vốn đổ vào mạnh nhất kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Trong đó, ngành tài chính, bảo hiểm chiếm tỷ trọng lớn nhất (60,4%) trong tổng vốn FDI vào Singapore năm 2024.

Theo sau Singapore là Indonesia, kể từ năm 2014, bằng việc áp dụng một loạt chính sách cải tổ nền kinh tế và thu hút FDI như cắt giảm thủ tục hành chính, thực hiện ưu đãi thuế cho các công ty nước ngoài, tập trung phát triển cơ sở hạ tầng, đầu tư mạnh vào các dự án lớn như đường cao tốc, phát triển ngành sản xuất pin cho xe điện (EV), … lượng vốn FDI vào Indonesia đã có sự tăng trưởng ngoạn mục.

Từ những con số khá khiêm tốn của những năm trước đó, trong hai năm 2015 và 2016, Indonesia đón nhận dòng vốn FDI lần lượt là 29,3 tỷ USD và 29,75 tỷ USD và trở thành một hiện tượng trong thu hút FDI của khu vực. Đến năm 2024, Indonesia ghi nhận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 55,3 tỷ USD, đứng thứ hai khu vực về thu hút vốn đầu tư.

Một đối thủ “nặng ký” khác trong cuộc đua FDI khu vực là Thái Lan. Quốc gia này đã áp dụng chiến lược "Thailand 4.0" nhằm tập trung vào các ngành công nghệ cao và đổi mới sáng tạo; xây dựng các khu công nghiệp thông minh, các chính sách ưu đãi nhằm thu hút các doanh nghiệp công nghệ cao và ô tô điện.

Bên cạnh đó, Thái Lan đã đầu tư mạnh vào cơ sở hạ tầng giao thông và logistics, giúp tăng cường khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Năm 2024, Thái Lan thu hút khoảng 35 tỷ USD FDI, mức cao nhất thập kỷ qua.

Mặc dù cuộc đua thu hút vốn FDI đang diễn ra giữa các nước trong khu vực ngày càng gay gắt, lượng vốn FDI chảy vào Việt Nam vẫn giữ được nhịp tăng trưởng ổn định trong những năm gần đây và Việt Nam nổi lên như một điểm sáng mới trong thu hút FDI trong khu vực ASEAN. Theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính), thu hút vốn FDI cả năm 2024 đạt gần 38,23 tỷ USD, thuộc nhóm 15 nước đang phát triển thu hút FDI lớn nhất thế giới; vươn lên vị trí thứ 3 về thu hút FDI khu vực.

6 tháng đầu năm 2025, tổng vốn đầu tư đăng ký mới, điều chỉnh vốn và góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt trên 21,51 tỷ USD, tăng 32,6% so với cùng kỳ năm 2024.

Bên cạnh những dự án mới, 6 tháng đầu năm, có 826 dự án FDI đã điều chỉnh vốn với tổng giá trị lên đến 8,95 tỷ USD, tăng 2,2 lần so với cùng kỳ. Bên cạnh đó, có 1.708 giao dịch góp vốn với tổng giá trị 3,28 tỷ USD, tăng 73,6% so với cùng kỳ. Những con số này cho thấy, dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam không chỉ phát triển theo chiều rộng với khối lượng vốn tăng mạnh, nhiều dự án mới, mà còn tăng trưởng cả về chiều sâu khi mà lượng vốn điều chỉnh và góp vốn tăng cao.

Cũng trong 6 tháng đầu năm 2025, các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 18 ngành trong tổng số 21 ngành kinh tế quốc dân. Nhóm ngành chế biến, chế tạo dẫn đầu về thu hút FDI với khoảng 55-56% tổng vốn, tương đương gần 12 tỷ USD, tăng 3,9% so với năm trước. Điều đó khẳng định vị thế bền vững của ngành này, nhờ khả năng chuyển giao công nghệ và đáp ứng nhu cầu toàn cầu.

Nếu như trước đây, dòng vốn FDI đóng góp trực tiếp cho tăng trưởng kinh tế thông qua sản xuất quy mô lớn, xuất khẩu và tạo việc làm, thì hiện nay, giá trị của FDI đang chuyển dần sang việc góp phần định hình trung tâm công nghệ cao, khả năng lan tỏa công nghệ, đổi mới sáng tạo và kết nối chuỗi giá trị toàn cầu.

Thực tế cho thấy, trong nửa đầu năm 2025, hàng loạt dự án FDI đăng ký và điều chỉnh vốn đều hướng tới các lĩnh vực bán dẫn, điện tử công nghệ cao, sản xuất vi mạch, pin năng lượng tái tạo, và đặc biệt là AI ứng dụng trong chuỗi cung ứng và logistics thông minh. Những dự án FDI trong nhóm ngành công nghệ cao mặc dù chiếm số lượng ít, nhưng lại chiếm tổng vốn đầu tư đăng ký mới khá lớn trong quý 2/2025, theo số liệu của Bộ Tài chính.

TS. Cấn Văn Lực, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ cho rằng, Việt Nam tiếp tục khẳng định ưu thế trong ổn định kinh tế vĩ mô và cải cách thể chế. Các đột phá thể chế mà Chính phủ đang thực hiện, đặc biệt là “bộ tứ chiến lược” gồm: chuyển đổi số - khoa học công nghệ (Nghị quyết 57), hội nhập kinh tế quốc tế (Nghị quyết 59), cải cách thể chế (Nghị quyết 66) và phát triển kinh tế tư nhân (Nghị quyết 68) sẽ làm nền tảng cơ sở để kinh tế Việt Nam tăng tốc bứt phá trong thời gian tới. Trong đó, Nghị quyết 68 mở ra không gian mới cho doanh nghiệp tư nhân khi được bảo đảm 3 quyền cốt lõi: tiếp cận thị trường, nguồn lực và quyền tài sản. Đây cũng chính là cơ hội để hút mạnh dòng vốn đầu tư nước ngoài.

Nhằm duy trì tính cạnh tranh và đà tăng trưởng dài hạn, Việt Nam cần tiếp tục thúc đẩy chính sách thu hút chọn lọc, cải cách hành chính sâu rộng, đầu tư vào chất lượng nguồn nhân lực và nâng cấp hạ tầng, hướng tới thu hút FDI cả lượng và chất, đưa công nghệ, dữ liệu và sáng tạo trở thành tài sản quý giá nhất của quốc gia.

Thúc đẩy dòng vốn FDI từ ASEAN vào Việt Nam

Bên cạnh sự cạnh tranh thu hút FDI lẫn nhau, Việt Nam cũng là một đối tác và một trong những điểm đến thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hàng đầu trong khu vực ASEAN.

Ngày 28/7/1995, Việt Nam trở thành thành viên ASEAN và tháng 1/1996, Việt Nam gia nhập Hiệp định Thương mại tự do ASEAN (AFTA) đã mở ra nhiều cơ hội thu hút vốn FDI từ các nước nội khối.

Giai đoạn 1997 - 2006, vốn FDI từ ASEAN vào Việt Nam có tăng nhưng không như kỳ vọng bởi ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á vào năm 1997. Đến năm 2007, khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và các chính sách về thu hút đầu tư của Việt Nam được ban hành đã tạo nền móng cho dòng vốn FDI tăng nhanh. Năm 2008, vốn FDI từ ASEAN vào Việt Nam đạt hơn 2,7 tỷ USD. Giai đoạn 2009 - 2016 dòng vốn này đã tăng gấp hơn 3 lần so với giai đoạn 1997 - 2006. Năm 2024, vốn FDI từ ASEAN vào Việt Nam đạt hơn 10,8 tỷ USD, tăng 4 lần so với năm 2008.

Tính lũy kế đến ngày 31/12/2024, vốn FDI từ ASEAN vào Việt Nam đạt khoảng 112,9 tỷ USD, với 5.868 dự án. Trong khi đó, tính lũy kế đến ngày 31/12/2024, Việt Nam có 42.002 dự án đầu tư nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 502,8 tỷ USD. Như vậy, vốn của khu vực ASEAN chiếm khoảng 22,15% tổng vốn đầu tư nước ngoài của các quốc gia vào Việt Nam.

Tính lũy kế qua các năm, Singapore dẫn đầu trong khu vực ASEAN đầu tư vào Việt Nam với số dự án và vốn đăng ký luôn chiếm tỷ trọng cao nhất. Đến tháng 12/2024, Singapore có tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và bổ sung là hơn 83,1 tỷ USD, chiếm hơn 73,6% tổng vốn đầu tư; tiếp theo là Thái Lan với 14,37 tỷ USD, chiếm 12,8%; Malaysia với 12,9 tỷ USD, chiếm 11,4%; Brunei với 976,7 triệu USD, chiếm 8,7% tổng vốn đầu tư. Tiếp theo lần lượt là Indonesia, Philippines, Campuchia và Lào.

Các nhà đầu tư ASEAN đã đầu tư vào 19/21 ngành trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân, chủ yếu tập trung vào các ngành như công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm khoảng 50% tổng vốn đầu tư đăng ký); hoạt động kinh doanh bất động sản (chiếm 20%); các lĩnh vực cấp nước và xử lý chất thải và nghệ thuật (chiếm 10%); vui chơi, giải trí (chiếm 8%)...

TS. Võ Trí Thành, nguyên Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh nhìn nhận, bối cảnh kinh tế thế giới năm 2025 không còn giống năm 2024, chính sách thuế quan, chiến lược kinh tế sẽ định hình lại dòng chảy thương mại - đầu tư toàn cầu.

Việt Nam đã rất thành công trong việc thu hút FDI trong suốt một thời gian dài, xu hướng này sẽ tiếp tục, thậm chí có thể sẽ tăng tốc trong thời gian tới. Tuy nhiên, cùng với cơ cấu lĩnh vực đầu tư, cơ cấu nhà đầu tư đang dần thay đổi. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải xem xét, thúc đẩy các mối quan hệ với cả các đối tác quen thuộc, và mở rộng cơ hội thu hút các nguồn đầu tư mới.

Việc tìm kiếm những “điểm nóng” cơ hội đầu tư lúc này sẽ rất quan trọng, không chỉ đối với các nhà đầu tư nước ngoài mà còn cho chính các doanh nghiệp Việt Nam đang tìm kiếm đối tác chiến lược.

Ai đang mua? Ai đang bán? Ai đang quan tâm đến hàng hóa Việt Nam? Đây là cơ hội để Việt Nam điều chỉnh chiến lược, chủ động tìm kiếm thêm các dòng vốn đầu tư mới, đồng thời xây dựng những cơ chế kết nối hiệu quả hơn giữa nhà đầu tư nước ngoài và các cơ hội kinh doanh trong nước, đặc biệt là sự kết nối từ các thị trường lân cận khu vực ASEAN, TS. Võ Trí Thành nhấn mạnh.

Mekongasean
Tin liên quan

Nội dung đang cập nhật...

Trở lại đầu trang