1

Nghịch lý của thị trường dược

Bán khoảng 60% lượng thuốc nhưng chỉ nắm 46% giá trị thị trường, doanh nghiệp dược Việt Nam vẫn chưa làm chủ những phân khúc thuốc có giá trị cao.

Bán hơn nửa số thuốc cho người Việt, doanh nghiệp nội thu về chưa tới một nửa số tiền. Ảnh minh họa: Pharmacity

Báo cáo ngành dược phẩm của TCBS cho thấy, quy mô thị trường dược phẩm Việt Nam năm 2025 đạt khoảng 7 tỷ USD, tương đương mức chi tiêu bình quân 70USD/người/năm.

Đáng chú ý, thuốc sản xuất trong nước chiếm khoảng 60% tổng lượng thuốc tiêu thụ nhưng chỉ đóng góp 46% giá trị thị trường. Điều này đồng nghĩa, dù cung cấp phần lớn lượng thuốc nhưng các nhà sản xuất trong nước vẫn chưa nắm được một nửa giá trị thị trường.

Nếu lấy các tỷ trọng trên làm cơ sở tính toán, giá trị bình quân trên một đơn vị thuốc sản xuất trong nước chỉ tương đương khoảng 57% thuốc nhập khẩu. Đây là phép so sánh cơ cấu giá trị trên lượng thuốc tiêu thụ, không đồng nghĩa thuốc nội có giá bán thấp hơn tương ứng khi so sánh cùng hoạt chất, hàm lượng và chất lượng.

Tuy vậy, khoảng cách này cũng phản ánh sự khác biệt về danh mục sản phẩm. Thuốc nội vẫn tập trung nhiều ở nhóm generic phổ thông, có kỹ thuật sản xuất tương đối đơn giản, giá bán thấp và mức độ cạnh tranh cao. Trong khi đó, thuốc nhập khẩu hiện diện nhiều hơn ở những phân khúc đặc trị, công nghệ cao và có giá trị lớn.

Chiến lược quốc gia phát triển ngành dược đặt mục tiêu đến năm 2030, thuốc sản xuất trong nước đáp ứng 80% nhu cầu sử dụng về số lượng và 70% về giá trị. Tuy vậy, hiện nay, hàng năm Việt Nam vẫn phải chi ra một nguồn ngoại tệ lớn để nhập khẩu thuốc thành phẩm, với kim ngạch ghi nhận đạt gần 4,3 tỷ USD.

Sự phụ thuộc song song này khiến các doanh nghiệp dược nội địa chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi các yếu tố hệ thống của thị trường toàn cầu. Bất kỳ một điều chỉnh nào từ phía đối tác quốc tế về chính sách bảo hộ, rào cản kỹ thuật hay chi phí vận chuyển đều dội áp lực lên biên lợi nhuận của doanh nghiệp trong nước.

Theo TCBS, khoảng 80–90% nguyên liệu làm thuốc phải nhập khẩu. Trong quý I/2026, Trung Quốc chiếm 60,5% và Ấn Độ chiếm 23,1% kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu làm thuốc. Khi dòng chảy logistics quốc tế gặp khó khăn, bài toán khan hiếm nguyên liệu cục bộ phát sinh đồng thời sẽ trở thành áp lực kinh tế trực tiếp, làm giảm lợi thế cạnh tranh của sản phẩm nội địa ngay tại hệ thống đấu thầu y tế.

Theo các chuyên gia ngành dược, thực trạng này xuất phát từ những điểm nghẽn mang tính cấu trúc của ngành công nghiệp phụ trợ, trước hết là sự thiếu vắng của ngành công nghiệp hóa dược nền tảng.

Đa phần doanh nghiệp sản xuất trong nước có quy mô vừa và nhỏ, chưa đủ tiềm lực tài chính dài hạn để gánh vác chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D) các hoạt chất gốc, trong khi đó, việc chưa tự chủ được nguyên liệu và hoạt chất tinh khiết có tác động rất lớn đến độ ổn định của quy trình sản xuất cũng như chất lượng thành phẩm.

Điểm nghẽn về nguyên liệu cũng bộc lộ trong lĩnh vực dược liệu. Tại Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2026 – Phiên đối thoại địa phương tỉnh Thái Nguyên mới đây, ông Vũ Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển dược và mỹ phẩm cho biết, Việt Nam có hơn 5.100 loài thực vật và nấm có công dụng làm thuốc nhưng hoạt động khai thác còn phân tán, thiếu quy hoạch và chủ yếu dừng ở khâu sơ chế, chưa tạo được nhiều giá trị từ chế biến sâu.

Dù có những đặc thù khác với sản xuất thuốc hóa dược, thực trạng này phần nào phản ánh hạn chế chung của ngành dược Việt Nam trong việc làm chủ các công đoạn có giá trị gia tăng cao. Đối với các nhà sản xuất thuốc, thách thức lớn hơn là làm thế nào thoát khỏi sự tập trung vào nhóm thuốc generic phổ thông, nơi lợi thế cạnh tranh chủ yếu nằm ở giá bán và chi phí sản xuất.

Bán nhiều thuốc nhưng giá trị thấp

Trên thực tế, việc thuốc nội chiếm 60% sản lượng nhưng chỉ nắm 46% giá trị thị trường không đơn thuần xuất phát từ chênh lệch giá bán giữa thuốc nội và thuốc ngoại. Đây còn là kết quả của sự khác biệt về phân khúc sản phẩm và khả năng tiếp cận thị trường.

Trong khi nhiều nhà sản xuất trong nước tập trung vào thuốc generic thông thường, các dòng thuốc biệt dược gốc, thuốc điều trị chuyên sâu và một số nhóm thuốc có yêu cầu công nghệ cao vẫn có sự hiện diện lớn của doanh nghiệp nước ngoài.

Đặc biệt, tại kênh bệnh viện, nơi nhu cầu sử dụng thuốc có giá trị lớn, năng lực cạnh tranh không chỉ được quyết định bởi giá bán mà còn phụ thuộc vào tiêu chuẩn sản xuất, hồ sơ kỹ thuật và khả năng đáp ứng các điều kiện đấu thầu.

Theo TCBS, dù Việt Nam có 245 cơ sở sản xuất dược đạt GMP, số dây chuyền đạt EU-GMP hoặc tương đương được thống kê mới ở mức 34. Điều này cho thấy năng lực tiếp cận các phân khúc thuốc có yêu cầu kỹ thuật cao vẫn còn hạn chế so với quy mô ngành. Với những doanh nghiệp chưa đáp ứng được tiêu chuẩn tương ứng, dư địa cạnh tranh chủ yếu vẫn nằm ở các nhóm thuốc phổ thông, nơi có nhiều nhà cung cấp cùng tham gia và áp lực giảm giá lớn.

Khi đó, để tăng doanh thu, doanh nghiệp thường phải mở rộng sản lượng, danh mục sản phẩm hoặc hệ thống phân phối. Nhưng nếu giá bán chịu sức ép cạnh tranh, tăng trưởng về số lượng thuốc chưa chắc giúp cải thiện lợi nhuận.

Ngược lại, muốn bước lên phân khúc có giá trị cao hơn, doanh nghiệp phải đầu tư vào công nghệ sản xuất, nghiên cứu phát triển sản phẩm, nâng cấp tiêu chuẩn chất lượng và xây dựng năng lực tham gia đấu thầu. Đây là những khoản đầu tư lớn, trong khi thời gian thu hồi vốn kéo dài và khả năng tiêu thụ chưa được bảo đảm.

Sự phân hóa này phần nào thể hiện qua kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp dược niêm yết. Theo TCBS, 11 doanh nghiệp dược trọng tâm ghi nhận doanh thu 13.035 tỷ đồng trong sáu tháng đầu năm 2026, tăng 4,3%, trong khi lợi nhuận sau thuế thuộc cổ đông công ty mẹ tăng 15,2%, đạt 1.756 tỷ đồng.

Nhưng đi sâu hơn vào cơ cấu doanh nghiệp, ngoại trừ tận dụng được lợi thế thương hiệu và mạng lưới phân phối như Dược Hậu Giang (mã CK: DHG) hay sớm đi trước để tập trung vào các dòng sản xuất thuốc đạt đạt tiêu chuẩn EU-GMP như Imexpharm (mã CK: IMP) từ đó mang lại hiệu quả kinh doanh cao. Các nhà sản xuất khác như Dược Bình Định (mã CK: DBD) hay Dược Hà Tây (mã CK: DHT) vẫn đang loay hoay trong quá trình đầu tư để khai thác lợi nhuận kinh doanh ở phân khúc giá trị cao.

Đáng chú ý, ngay cả khi mở rộng được thị trường, doanh nghiệp sản xuất cũng phải đối mặt với sức ép ngày càng lớn từ hệ thống phân phối. Sự phát triển của các chuỗi nhà thuốc hiện đại như Long Châu, Pharmacity hay An Khang đang hình thành những đối tác mua hàng có quy mô lớn, đồng thời gia tăng sức ép đàm phán về giá và chiết khấu.

Theo TCBS, riêng quý II/2026, doanh thu nhóm 11 doanh nghiệp dược tăng 4,1%, nhưng chi phí bán hàng tăng 7,1%, lên 1.402 tỷ đồng. Điều đó cho thấy việc bán được nhiều thuốc hơn chưa chắc giúp nhà sản xuất giữ lại được tỷ lệ lợi nhuận cao hơn.

Ở đây, doanh nghiệp dược nội đang đứng trước hai áp lực, trong đó, thứ nhất nếu tiếp tục tập trung vào thuốc phổ thông, họ phải cạnh tranh quyết liệt về giá và quy mô. Nhưng nếu đầu tư vào các dòng thuốc có giá trị cao, doanh nghiệp phải chấp nhận chi phí vốn lớn, yêu cầu công nghệ khắt khe và rủi ro đầu ra.

Đây chính là bài toán cốt lõi đằng sau khoảng cách giữa thị phần sản lượng và thị phần giá trị của thuốc sản xuất trong nước.

Điều này cho thấy, mục tiêu nâng tỷ trọng thuốc nội lên 70% giá trị thị trường vào năm 2030 vì vậy không thể chỉ thực hiện bằng cách gia tăng sản lượng hay mở rộng công suất nhà máy. Điều quan trọng hơn là thay đổi cơ cấu sản phẩm, nâng cao năng lực công nghệ và cải thiện vị thế của nhà sản xuất trong chuỗi phân phối.

Nguồn:The LEADER Sao chép liên kết
Trở lại đầu trang