'Vaccine’ nào cho nền kinh tế?

'Vaccine’ nào cho nền kinh tế?

"Những chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và người dân vượt đại dịch COVID-19 thì đã có nhưng thực thi chậm đang là một điểm nghẽn đến nền kinh tế vượt khó", TS. Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện nghiên cứu Chiến lược thương hiệu và Cạnh tranh (BCSI) nhận định.


Đại dịch COVID-19 - một thảm họa toàn cầu, đã tác động hết sức nghiêm trọng đến kinh tế toàn cầu. Kinh tế toàn cầu, vốn đã giảm tốc từ năm 2019, suy thoái nặng nề năm 2020. Bước vào năm 2021, triển vọng phục hồi kinh tế trở nên sáng sủa hơn, ngay cả khi dịch bệnh diễn biến còn phức tạp ở nhiều khu vực, quốc gia. Tháng 4/2021 IMF nhận định tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2021 sẽ đạt 6,0%, cao hơn 0,5 điểm phần trăm so với dự báo vào tháng 1/2021.

Tuy nhiên, tiến trình phục hồi gặp không ít khó khăn, phụ thuộc nhiều vào tình hình dịch và mức độ khống chế dịch, hiệu lực các chính sách hỗ trợ của chính phủ, và việc tận dụng sự gia tăng trở lại của thương mại và đầu tư toàn cầu. 

Trong bối cảnh đó, nhiều nước tiếp tục tung các gói hỗ trợ chống dịch và thêm đà phục hồi kinh tế. Chịu tác động năng nề của đại dịch COVID-19, phục hồi và trắc trở cũng là đặc trưng của kinh tế Việt Nam. Năm 2020, tăng trưởng GDP chỉ đạt 2,9% - mức thấp nhất trong nhiều thập niên; hơn 35 triệu lao động bị ảnh hưởng xấu; cả trăm nghìn doanh nghiệp đóng cửa. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn được coi là điểm sáng trong bức tranh ảm đạm chung của thế giới; kinh tế Việt Nam nằm trong số ít quốc gia đã có đà phục hồi với sản lượng tăng trưởng vượt mức trước COVID-19 ngay trong  năm 2020 (World Bank 4/2021).

kinh-te-viet-nam

Ảnh: internet

Phản ứng của Chính phủ kịp thời nhưng ... chưa đồng bộ

Bước vào năm 2021, Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng 6,5%, trong khi nhiều tổ chức trong nước và quốc tế dự báo Việt Nam có thể có tăng trưởng GDP từ 6,5% đến trên 7,0%. Dù phải đối mặt với đợt dịch thứ 3 (tháng 1-2/2021) và thứ 4 (từ cuối tháng 4/2021), những con số thống kê tổng thể 6 tháng đầu năm 2021 cho thấy kinh tế Việt Nam tiếp tục phục hồi trên nhiều mặt (công nghiệp chế biến, chế tạo; xuất khẩu; vốn FDI thực hiện; tổng mức bán lẻ,…).

Tuy nhiên, việc đạt mục tiêu tăng trưởng Chính phủ đề ra trở nên khó khăn hơn nhiều. Bên cạnh việc hứng chịu những trắc trở chung của kinh tế thế giới, kinh tế Việt Nam còn phải đối mặt với các đợt dịch mới, nhất là đợt dịch thứ tư, phức tạp hơn, nghiêm trọng hơn (đa nguồn lây, đa biến chủng SARS-CoV2; tốc độ lây lan nhanh, diện rộng). Trong hai tháng 5 và tháng 6/2021, hàng loạt lĩnh vực dịch vụ như du lịch, vận tải, nhà hàng, khách sạn,.. chịu tác động rất tiêu cực.

Đặc biệt, đợt dịch thứ tư đã "đánh" trực tiếp vào các khu công nghiệp ở Bắc Giang và Bắc Ninh - trung tâm sản xuất và xuất khẩu thiết bị và linh kiện điện tử của Việt Nam, với dự báo sản lượng có thể giảm khoảng 40%-50%. Đó là chưa nói nguy cơ tương tự cũng hiện hữu ở TP.HCM (phải thực hiện giãn cách xã hội cả tháng 6 ở các cấp độ khác nhau). Cùng với đó, triển khai thực hiện đầu tư công - một thành tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng –  khó khăn hơn do các nhà thầu khó triển khai dự án khi giá vật liệu như thép, xi măng,… tăng mạnh, làm thui chột động lực và lợi ích của họ.

Triển vọng phục hồi và khó khăn còn được phản ánh qua số lượng doanh nghiệp gia nhập và rút lui khỏi thị trường. Trong 5 tháng đầu năm 2021 mỗi tháng trung bình có gần 15,7 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, nhưng cũng có gần 12 nghìn doanh nghiệp phá sản, chờ giải thể hoặc tạm "đóng cửa". Đến đầu tháng 6/2021, hai đợt dịch đã ảnh hưởng xấu đến 9,1 triệu lao động.

Trong bối cảnh đại dịch COVID-19, Việt Nam lựa chọn thực hiện mục tiêu "kép", kết hợp phòng chống dịch,coi đây là nhiệm vụ hàng đầu, và cùng với đó là nỗ lực tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và hỗ trợ người lao động, bảo đảm an sinh xã hội. Ngay từ đầu năm đến tháng 4/2020, Việt Nam đã đề ra "gói" các giải pháp đối phó với tác động tiêu cực của đại dịch, bao gồm: Hỗ trợ tài khóa (miễn, giảm thuế, phí, lệ phí và nhất là giãn hoãn nộp thuế, tiền thuê đất (trong 5 tháng); Hỗ trợ tiền tệ - tín dụng (giảm lãi suất khi cho vay mới; cơ cấu lại nợ; miễn, giảm lãi cho các khoản vay bị ảnh hưởng xấu; miễn, giảm phí,… cùng 3 lần Ngân hàng Nhà nước giảm các lãi suất điều hành); Hỗ trợ an sinh xã hội (62 nghìn tỷ cho khoảng 20 triệu người trong các nhóm dễ bị tổn thương, khó khăn).

Theo Nhóm Nghiên cứu BIDV với tổng giá trị thực (tổng chi phí mà Chính phủ và các tổ chức tín dụng cam kết) khoảng 184,7 nghìn tỷ, tương đương  2,94% GDP năm 2020. Cùng với đó, Chính phủ cũng nỗ lực đẩy nhanh việc thực hiện các dự án đầu tư công với tổng kinh phí tới 700 nghỉn tỷ,góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng cùng tạo tác động lan tỏa tích cực, hạn chế giảm việc làm, thu nhập do đại dịch gây ra.

Phản ứng của Chính phủ là kịp thời; nhiều chính sách là chưa từng có tiền lệ. Cách tiếp cận chính sách ở đây là diện bao phủ được hỗ trợ đủ rộng, kết hợp đảm bảo an sinh xã hội cùng cơ bản tạo điều kiện cho doanh nghiệp còn có "dòng tiền" để cầm cự, duy trì sản xuất kinh doanh, vượt qua khó khăn. Trong điều kiện nguồn lực không dư giả, ngân sách còn eo hẹp, thì hỗ trợ phải thiết thực song chưa thể "tất tay" một lúc do có thể chưa lường hết mức độ tác động và thời gian kéo dài của đại dịch. Gói hỗ trợ kỳ vọng sẽ được triển khai thực thi nhanh ngay sau khi ban hành.

Đáng tiếc là sự vào cuộc của nhiều cơ quan ban ngành thiếu quyết liệt, chưa đồng bộ. Có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân quá "cầu toàn" (như thiết kế điều kiện hỗ trợ an sinh xã hội), "sợ" trách nhiệm của cán bộ thực hiện. Thực thi chính sách nói chung rất chậm, hiệu quả thấp nhiều so với kỳ vọng. Ví dụ như đến hết năm 2020 hỗ trợ an sinh xã hội mới giải ngân được hơn 12,8 nghìn tỷ, tức khoảng 20,6% tổng giá trị, cho gần 13 triệu người. Còn theo khảo sát diện rộng của Tổng cục Thống kê vào tháng 9/2020, chỉ có khoảng 18% số doanh nghiệp tiếp cận được gói hỗ trợ ở mức độ khác nhau.

Cần một gói hỗ trợ đủ mạnh

Ngay từ cuối quý III - đầu quý IV/2020, những ý tưởng về "gói" hỗ trợ thứ hai đã được đưa ra thảo luận.  Ý tưởng cho "gói" thứ hai không chỉ với mục tiêu "duy trì", "cầm cự", "vượt khó", mà còn giúp doanh nghiệp "bắt nhịp" với đà phục hồi của kinh tế Việt Nam và thế giới cũng như đòi hỏi của tiến trình tái cấu trúc nền kinh tế gắn với các xu hướng phát triển mới (về công nghệ, nhất là chuyển đổi số; về kỹ năng lao động; về sự dịch chuyển các chuỗi cung ứng toàn cầu cùng dòng đầu tư; về lối sộng, cách thức tiêu dùng,…).

Chính vì vậy, qui mô "gói" hỗ trợ thứ hai này phải đủ lớn, dù có thể phải chấp nhận thâm hụt ngân sách và tỷ lệ nợ công cao hơn, đủ kéo dài (ít nhất cho cả năm 2021). Rút kinh nghiệm từ việc thực thi "gói" hỗ trợ lần thứ nhất, cần đảm bảo thực thi "nhanh, minh bạch", lấy hiệu quả tổng thể làm thực đo đánh giá cao nhất.

Đáng tiếc, do một số lý do, Việt Nam lại chậm trễ trong chuẩn bị thấu đáo và triển khai "gói" hỗ trợ thứ hai. Thay vào đó, đầu năm 2021, các Bộ, ngành về cơ bản chỉ đề xuất tiếp tục "kéo dài" thực hiện các giải pháp tài khóa, tiền tệ… đã có. Với hiệu lực thấp của "gói" hỗ trợ thứ nhất, những điều này ít nhiều càng làm cho lòng tin và sự quan tâm của cộng đồng doanh nghiệp đối với cách thức hỗ trợ của nhà nước bị suy giảm. 

Đến thời điểm này, vẫn rất cần một "gói" hỗ trợ đủ mạnh. Như đã nêu, quá trình phục hồi còn gặp nhiều trắc trở; doanh nghiệp vẫn đói mặt với rất nhiều khó khăn. Yêu cầu ở đây không chỉ là giúp người lao động, doanh nghiệp vượt khó, phục hồi, mà còn tạo tiền đề có tính nền tảng để doanh nghiệp phát triển bền vững, sáng tạo. Lưu ý là bên cạnh khả năng sử dụng một phần nguồn dự trữ ngoại hối (dù chưa thật dư giả) như nhiều quốc gia đã tận dụng, dư địa chính sách tài khóa vẫn cònTỷ lệ nợ công/GDP năm 2020 ở mức 55,8% GDP (hay gần 45% GDP sau đánh giá lại GDP), thấp hơn đáng kể so với mức 62% GDP cuối năm 2015; bội chi ngân sách từ 6,28% GDP giai đoạn trước xuống mức dưới 4% GDP giai đoạn 2016-2020. Thu ngân sách 6 tháng đầu năm 2021 đạt khá.

"Gói" hỗ trợ lần hai đã được đề xuất. Bối cảnh hiện nay cũng đặt thêm những điểm đáng lưu ý đối với các giải pháp hỗ trợ. Trước hết là các giải pháp tháo gỡ khó khăn do dịch bệnh đang diễn biến phức tạp gây ra. Thứ hai là "gói" hỗ trợ vừa có diện đủ rộng, vừa có điểm nhấn về lĩnh vực, ngành nghề. Thứ ba là hỗ trợ phải thúc đẩy cải cách, sáng tạo thích ứng với xu thế phát triển mới. Với tinh thần đó, cần xem xét, quan tâm đến các vấn đề/giải pháp sau:

Trước hết là công cuộc khống chế và đẩy lùi dịch bệnh. Việc tạo miễn dịch cộng đồng nhờ đẩy nhanh tiêm chủng (chỉ có thể đạt được vào đầu năm 2022?). Ưu tiên tiêm phòng cho công nhân các khu công nghiệp là rất cần nhưng chưa đủ. Bài học vừa qua cho thấy sự sáng tạo và chủ động của địa phương trong phòng chống dịch là cần thiết, song không kém phần quan trọng là sự phối hợp giữa các địa phương và sự điều phối "cầm trịch" của Trung ương, nhất là đối với các tỉnh/thành có mức độ tịch tụ sản xuất cao, cần đảm bảo lưu thông hàng hóa thuận lợi và hạn chế sự đứt gãy của các chuỗi cung ứng.

Bên cạnh việc kéo dài thời hạn thực thi các giải pháp hỗ trợ về tài khóa, tiền tệ trong gói thứ nhất, cần bổ sung thêm một số biện pháp. Nhóm ngiên cứu BIDV đã có những đề xuất đáng tham khảo như: miễn phí công đoàn năm 2021 tại doanh nghiệp; chính thức điều chỉnh giảm thuế thu nhập doanh nghiệp từ 20% xuống 15-17% đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) từ năm 2021; tăng cho vay qua Quỹ phát triển DNNVV và khởi động hoạt động thực chất của các quỹ bảo lãnh vay vốn DNNVV (quy mô khoảng 60 nghìn tỷ); thúc đẩy thực hiện gói cho vay nhà ở xã hội (3 nghìn tỷ).

Đối với diện hỗ trợ an sinh xã hội, cần bổ sung, ưu tiên nhóm lao động trong các khu công nghiệp vùng có dịch. Đặc biệt quan tâm đến các cách thức hỗ trợ để doanh nghiệp giữ chân người lao động (khi phục hồi việc tuyển dụng lại lao động là rất khó khăn). Hỗ trợ xã hôi cần đi kèm với đào tạo nghề cho lao động chuyển nghề do mất hay thay đổi việc làm và nâng cao tay nghề, kỹ năng lao động. Khoản hỗ trợ cũng có thể cần được kết hợp tốt với dịch vụ Mobile Money (tăng cường tính công khai, minh bạch, tiết giảm chi phí, thúc đẩy thanh toán không tiền mặt).

"Gói" hỗ trợ cần có các giải pháp khuyến khích tạo vốn cho các lĩnh vực đòi nhiều sáng tạo như nghiên cứu vaccine, ICT,… cũng như tạo thêm "động lực/incentives" cho startups, những doanh nghiệp "thắng cuộc" (chứng minh được sức sống và thích ứng với xu hướng phát triển mới - khác với cách "chọn người thắng cuộc" từ đầu).

Đối với một số doanh nghiệp lớn trong một số lĩnh vực (dịch vụ) chịu thiệt hại quá lớn như thua lỗ năng nề, tài chính yếu kém, thiếu tài sản đảm bảo,.. do đại dịch, việc hỗ trợ, nếu có, phải trên cơ sở đánh giá tác động của bản thân doanh nghiệp đối với nền kinh tế khi phục hồi cùng có các hướng dẫn cụ thể về yêu cầu tài sản đảm bảo, quy định cho vay, đầu tư… (vì không không thể áp dụng như doanh nghiệp bình thường hay trong điều kiện bình thường).

Bên cạnh đó, xử lý nhanh chóng những vướng mắc hiện nay đối với nhà thầu/nhà đầu tư trong triển khai thực hiện các dự án đầu tư công trọng điểm cũng rất có ý nghĩa cả đối với tiến trình phục hồi và cả tạo tiền đề tốt cho sự phát triển kinh tế trong giai đoạn tới.

Trong thực hiện tổng thể các giải pháp, Chính phủ cần tính đến tác động có thể đến ổn định kinh tế vĩ mô. Rất cần xây dựng kế hoạch, phương án thoái lui các biện pháp hỗ trợ khi nền kinh tế có dấu hiệu tăng trưởng vững chắc nhằm hạn chế các rủi ro về lạm phát, tài chính... Việc thực hiện "gói" hỗ trợ không loại trừ mà càng cần gắn chặt với những nỗ lực cải cách cơ cấu, cải cách thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tận dụng hội nhập quốc tế thúc đẩy xuất khẩu và thu hút FDI có chất lượng.

Việt Nam kiên định thực hiện "mục tiêu kép": Vừa đẩy lùi, không chế dịch bệnh, vừa tạo điều kiện tốt nhất có thể để doanh nghiệp vươt khó, phục hồi và bắt nhịp với đà phục hồi của kinh tế thế giới, nhất là của nhiều nền kinh tế là đối tác chính của Việt Nam, cũng như với xu hướng phát triển mới. Hy vọng các giải pháp hỗ trợ của Chính phủ sẽ được triển khai thực hiện nhanh, có hiệu lực và thật hiệu quả. 

 

Theo nhadautu.vn

Trở lại đầu trang