Thương mại hóa tài sản trí tuệ tại ĐBSCL: Khơi thông dòng chảy từ phòng thí nghiệm ra thị trường
Dù được ví như "chìa khóa" để biến tri thức thành giá trị kinh tế, song lộ trình đưa các văn bằng sở hữu trí tuệ từ bàn giấy ra đến thị trường tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) vẫn còn không ít rào cản.
Trong kỷ nguyên Cách mạng công nghiệp 4.0, quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) không đơn thuần là công cụ bảo hộ thành quả nghiên cứu mà đã trở thành nền tảng cốt lõi thúc đẩy kinh tế tri thức. Tại Cần Thơ, các cơ sở đào tạo lớn như Trường Đại học Cần Thơ (ĐHCT), Đại học Y Dược Cần Thơ hay Đại học Kỹ thuật – Công nghệ Cần Thơ đã sớm nhận diện được tầm quan trọng này. Những nỗ lực xác lập quyền đối với nhãn hiệu, sáng chế và giải pháp hữu ích đã tạo nên một diện mạo mới cho hệ sinh thái đổi mới sáng tạo khu vực.
Minh chứng rõ nét nhất nằm ở những con số "biết nói" từ Trường ĐHCT. Tính đến tháng 9/2024, đơn vị này đóng góp tới 26% tổng số đơn đăng ký sáng chế và giải pháp hữu ích của toàn thành phố, đồng thời nắm giữ 34% số văn bằng bảo hộ đã được cấp.
Không chỉ dừng lại ở giảng đường, sức sống của hoạt động SHTT còn hiện hữu mạnh mẽ trong lĩnh vực nông nghiệp – trụ cột kinh tế của vùng. Viện Lúa ĐBSCL là một ví dụ điển hình với hơn 30 giống lúa mới được công nhận từ năm 2010 đến nay. Việc bảo hộ thành công các giống lúa chịu hạn, mặn và năng suất cao không chỉ bảo vệ chất xám của nhà khoa học mà còn trực tiếp hỗ trợ nông dân thích ứng với biến đổi khí hậu, nâng cao vị thế của hạt gạo Việt Nam trên trường quốc tế.
Dù sở hữu số lượng văn bằng bảo hộ đáng khích lệ, song thực tế cho thấy tỷ lệ tài sản trí tuệ được chuyển giao hoặc thương mại hóa tại ĐBSCL vẫn còn ở mức khiêm tốn. Phần lớn các công trình nghiên cứu sau khi được cấp bằng vẫn đang dừng lại ở mức thử nghiệm trong phòng thí nghiệm hoặc "nằm chờ" trên giá sách, chưa thực sự biến thành hàng hóa có giá trị thặng dư cao.

Theo góc nhìn của TS Nguyễn Hữu Cẩn, Quyền Viện trưởng Viện Khoa học SHTT, thương mại hóa là một khái niệm rộng, bao hàm cả chuyển giao công nghệ, nhượng quyền và liên kết sản xuất. Tuy nhiên, rào cản lớn nhất hiện nay chính là sự lệch pha giữa "cung" và "cầu". Trong khi các nhà khoa học giỏi chuyên môn thường thiếu kỹ năng thị trường, thì các doanh nghiệp lại rơi vào tình trạng thiếu thông tin về các công nghệ sẵn có. Bên cạnh đó, những vướng mắc về cơ chế định giá tài sản trí tuệ và quy trình chia sẻ lợi ích vẫn là những "nút thắt" pháp lý khiến cả hai bên ngần ngại khi bắt tay hợp tác.
Ngay cả tại Trường ĐHCT, dù là đơn vị dẫn đầu, hoạt động chủ đạo vẫn chủ yếu dừng lại ở mức hợp tác chuyển giao công nghệ, còn những thương vụ thương mại hóa quyền SHTT thực thụ vẫn chưa xuất hiện nhiều. Điều này cho thấy khoảng cách từ một sáng chế được bảo hộ đến một sản phẩm thương mại hoàn chỉnh trên thị trường vẫn còn là một hành chặng đường dài đầy thách thức.
Để thu hẹp khoảng cách này, Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đặt ra những mục tiêu cụ thể, kỳ vọng tỷ lệ sáng chế được khai thác thương mại đạt từ 8–10% vào năm 2030. Đây không chỉ là một con số kỹ thuật mà là một mệnh lệnh hành động đối với các viện, trường và cơ quan quản lý tại ĐBSCL.
Giải pháp căn cơ không nằm ở việc chạy đua theo số lượng văn bằng, mà nằm ở chiến lược lựa chọn những nghiên cứu có tiềm năng ứng dụng thực tiễn cao ngay từ khi bắt đầu.
Trong bối cảnh ĐBSCL đang chuyển đổi mô hình tăng trưởng và đối mặt với thách thức biến đổi khí hậu, việc đưa tri thức vào thực tiễn không còn là lựa chọn mà là con đường duy nhất. Những giải pháp khoa học công nghệ gắn với nông nghiệp bền vững và môi trường cần được ưu tiên thúc đẩy thương mại hóa mạnh mẽ hơn, nhằm biến chất xám thành nguồn lực phục vụ trực tiếp cho sự phát triển của vùng đất chín rồng.





In bài viết






















